+ Trả lời Chủ đề
Kết quả 1 đến 6 của 6

Chủ đề: Sản xuất nhôm dùng làm khung miệng gió

  1. #1
    Member
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    45
    Thanks
    0
    Được Thanks 0 lần trong 0 bài

    Sản xuất nhôm dùng làm khung miệng gió

    SẢN XUẤT - CUNG CẤP SỈ LẺ NHÔM THANH DÙNG LÀM KHUNG MIỆNG GIÓ CÁC LOẠI



    LH 0937 655 551 - 0983 994 326



    QUÝ KHÁCH CÓ THỂ THAM KHẢO THÊM TỪ HÌNH ẢNH WEDSITE CHÚNG TÔI:

    NHÔM KHUNG MIỆNG GIÓ CÁC LOẠI







    ================================================== ================================================== ================================================== ================================================== ========

    Nhôm ( tiếng Latinh : alumen , alum ) là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Al và sống mũi tử bằng 13. Đeo mặt nạ tử khối bằng 27 đvC. Khối lượng riêng là 2 , 7 g/cm 3 . Nhiệt độ nóng chảy là 660 o C. Nhôm là nguyên tố phổ biến thứ 3 ( sau ôxy và silic ) , và là kim loại phổ quát nhất trong vỏ trái đất. Nhôm chiếm khoảng 8% khối lớp rắn của trái đất. Kim loại nhôm hiếm phản ứng hóa học mạnh với các mẫu quặng và hiện diện ngăn lại trong một giới hạn nhất định trong các môi trường khử cực mạnh. Tuy thế , nó vẫn được tìm thấy ở dạng hợp chất trong hơn 270 loại khoáng vật khác nhau. [4] Quặng chính chứa nhôm là bô xít .



    Nhôm có điểm đáng chú ý của một kim loại có tỷ trọng thấp và có xác xuất chống bào mòn hiện tượng thụ động. Các thành phần kiến trúc được làm từ nhôm và hợp kim của nó là rất quan yếu cho ngành công nghiệp cơ giới vũ trụ và rất quan trọng trong các chuye khác của liên lạc chuyên chở và nguyên liệu cấu trúc. Các hợp chất bổ ích nhất của nhôm là các ôxít và sunfat.



    mặc dầu nó hiện diện phổ quát trong môi trường nhưng các muối nhôm không được bất kỳ dạng sống nào sử dụng. Với sự phổ quát của nó , nhôm được thu nạp tốt bởi thực vật và động vật. [5]



    Từ "nhôm" trong tiếng Việt có nguồn gốc từ aluminium trong tiếng Pháp .







    tính chất [ sửa sửa mã nguồn ] Nhôm là một kim loại mềm , nhẹ với màu xám bạc ánh kim mờ , vì có một lớp mỏng ôxi hóa tạo thành rất nhanh khi nó để trần ngoài không khí . Tỷ trọng riêng của nhôm chỉ khoảng một phần ba sắt hay đồng ; nó rất mềm ( chỉ sau vàng ) , dễ uốn ( đứng thứ sáu ) và dễ dàng gia công trên máy móc hay đúc; nó có khả năng chống bào mòn và bền vững do lớp ôxít trông coi. Nó cũng không nhiễm từ và không cháy khi để ở ngoài không khí ở hoàn cảnh thông thường .



    Sức bền của nhôm tinh khiết là 7–11 MPa , trong khi hợp kim nhôm có độ bền từ 200 MPa đến 600 MPa. [6] Các nguyên tử nhôm sắp xếp thành một kiến trúc lập phương tâm mặt ( fcc ). Nhôm có năng lượng xếp lỗi vào khoảng 200 mJ/m 2 . [7]



    Nhôm phản ứng với nước tạo ra hydro và năng lượng:



    2 Al + 6 H 2 O → 2 Al( OH ) 3 + 3 H 2

    tính chất này có xác xuất dùng để sản xuất hydro , tuy nhiên phản ứng này chóng vánh dừng lại vì tạo lớp kết tủa keo lắng xuống , ngăn cản biến hóa xảy ra. [8]



    Khi ngâm trong dung dịch kiềm đặc , lớp màng này sẽ bị gây thiệt hại nhiều theo phản ứng



    Al( OH ) 3 +NaOH → NaAlO 2 + 2H 2 O

    nối Al lại hiệu quả với nước như biến hóa trên. Quá trình này lại diễn ra đến khi Al không bị hòa tan hết.



    Lịch sử [ sửa sửa mã nguồn ] Tham chiếu hàng đầu tới nhôm ( mặc dầu chẳng thể chứng minh ) là trong Naturalis Historia của Gaius Plinius Secundus ( tức Pliny anh ):



    Có một càng ngày càng người thợ vàng ở Roma được phép cho hoàng đế Tiberius xem một chiếc đĩa ăn làm từ một kim loại mới. Chiếc đĩa rất nhẹ và có màu sáng như bạc . Địa ngục thợ vàng nói với hoàng đế rằng ông đã làm ra kim loại từ đất sét thô. Ông cũng cam đoan với hoàng đế rằng chỉ có ông ta và chúa Trời biết cách sản xuất kim loại này từ đất sét. Hoàng đế rất ham , và như một chuyên gia về tài chính ông đã quan hoài tới nó. Tuy nhiên ông nhận ngay ra là mọi Chia của cải vàng , bạc của ông sẽ mất giá trị giá như người dân bắt đầu sản xuất kim khí màu sáng này từ đất thó. Vì thế , thay vì cảm ơn người thợ vàng , ông đã ra lệnh chặt đầu ông ta . [9] [10]



    Những người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã sử dụng các loại muối của kim loại này như là thuốc cẩn màu ( nhuộm ) và như chất làm se vết thương , và phèn chua vẫn được sử dụng như chất làm se. Năm 1761 Guyton de Morveau đề xuất cách gọi gốc của Phèn trắng là alumine . Năm 1808 , Humphry Davy xác định được gốc kim loại của phèn chua ( alum ) , mà theo đó ông Mệnh danh cho nhôm là aluminium .



    tên tuổi của Friedrich Wöhler nói chung được gắn liền với việc phân lập nhôm vào năm 1827 . Tuy nhiên , kim loại này đã được sản xuất lần hàng đầu trong dạng không nguyên chất hai năm trước bởi nhà vật lý và hóa học Đan Mạch Hans Christian Ørsted .



    Nhôm được chọn làm chóp cho đài kỷ niệm Washington vào thời kì khi một aoxơ ( 28 , 35 g ) quý báu bằng hai lần ngày lương của người lao động. [11]



    Charles Martin Hall nhận được bằng sáng chế ( số 400655 ) năm 1886 , về quy trình điện phân để sản xuất nhôm. Henri Saint-Claire Deville ( Pháp ) đã hoàn thiện thủ pháp của Wöhler ( năm 1846 ) và biểu hiện nó trong cuốn sách năm 1859 với hai cải tiến trong quy trình là thay thế kali thành natri và hai thay vì một ( chlorure )??. Phát minh của quy trình Hall-Héroult năm 1886 đã làm cho việc làm ra nhôm từ khoáng chất trở nên không đắt tiền và hiện nay nó được sử dụng rộng rãi trên thế giới.



    Nước Đức trở nên nhà sản xuất nhôm lớn nhất thế giới sau khi Adolf Hitler lên nắm quyền. Tuy nhiên , năm 1942 , những nhà máy thủy điện mới như Grand Coulee Dam đã cho phép Mỹ những thứ mà nước Đức quốc xã không thể được tràn đầy hy vọng cạnh tranh: khả năng làm ra đủ nhôm để có xác xuất làm ra 60.000 máy bay khu trục trong bốn năm. [12] .



    áp dụng [ sửa sửa mã nguồn ] Tính theo cả số lượng lẫn giá trị , việc sử dụng nhôm vượt tất thảy các kim loại khác , trừ sắt [13] , và nó đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Nhôm thuần khiết có sức chịu kéo thấp , nhưng tạo ra các hợp kim với nhiều nguyên tố như đồng , kẽm , magiê , mangan và silic [14] . Khi được gia công cơ-nhiệt , các hợp kim nhôm này có các thuộc tính cơ học tăng lên đáng kể.



    Các hợp kim nhôm gây nên một thành phần quan yếu trong các máy bay và tên lửa do tỷ lệ sức bền cao trên cùng khối lượng.

    Khi nhôm được bay hơi trong chân không , nó tạo ra lớp bao trùm v cả ánh sáng và bức xạ nhiệt . Các lớp bao phủ này gây nên một lớp mỏng của ôxít nhôm canh gác , nó không bị hỏng hóc như các lớp bạc bao trùm vẫn hay bị. Trên thực tiễn , Hầu như tuốt các loại gương hiện đại được làm ra sử dụng lớp cộng chấn bằng nhôm trên mặt sau của thủy tinh . Các gương của kính thiên văn cũng được phủ một lớp mỏng nhôm , nhưng là ở mặt trước để tránh các cộng chấn bên trong mặc dù điều này làm cho bề mặt nhạy cảm hơn với các thương tổn.

    Các loại vỏ phủ nhôm thỉnh thoảng được dùng thay vỏ phủ vàng để phủ vệ tinh nhân tạo hay khí cầu để tăng nhiệt độ cho chúng , nhờ vào biến hóa hấp thu bức xạ điện từ của mặt trời tốt , mà bức xạ hồng ngoại vào ban đêm thấp.

    Hợp kim nhôm , nhẹ và bền , được dùng để trở tạo các chi tiết của phương tiện vận tải ( ô tô , máy bay , xe tải , toa xe tàu hỏa , tàu bể , v.v. )

    Đóng gói ( can , giấy gói , v.v )

    xử lí nước thuốc

    Xây dựng ( cửa sổ , cửa , ván , v.v; tuy nhiên nó đã đánh mất vai trò chính dùng làm dây dẫn phần sau chót của các mạng điện , trực tiếp đến người sử dụng. [15] )

    Các hàng tiêu dùng có độ bền cao ( trang thiết bị , đồ nấu ăn , v.v )

    Các đường dây tải điện ( mặc dầu độ dẫn điện của nó chỉ bằng 60% của đồng , nó nhẹ hơn nếu tính theo khối lượng và rẻ tiền hơn [16]

    chế tác máy móc.

    mặc dù tự bản thân nó là không nhiễm từ , nhôm được sử dụng trong thép MKM và các từ thạch Alnico .

    Nhôm siêu tinh khiết ( SPA ) chứa 99 , 980%-99 , 999% nhôm được sử dụng trong Công lao điện tử và làm ra đĩa CD .

    Nhôm dạng bột bình thường được sử dụng để tạo màu bạc trong sơn. Các bông nhôm có thể cho thêm vào trong sơn lót , cốt tử là trong xử lí gỗ — khi khô đi , các bông nhôm sẽ tạo ra một lớp kháng nước rất tốt.

    Nhôm dương cực hóa là yên ổn hơn đối với sự ôxi hóa , và nó được sử dụng trong các khu vực khác nhau của xây dựng.

    phần nhiều các bộ tản nhiệt cho CPU của các máy tính hiện đại được làm ra từ nhôm vì nó dễ dàng trong làm ra và độ dẫn nhiệt cao.

    Ôxít nhôm , alumina , được tìm thấy trong tự nhiên dưới dạng corunđum , emery , ruby và saphia và được sử dụng trong làm ra sao thủy. Ruby và saphia tổng hợp được sử dụng trong các ống tia laser để sản xuất ánh sáng có xác xuất giao thoa .

    Sự ôxi hóa nhôm tỏa ra nhiều nhiệt , nó sử dụng để làm vật liệu rắn cho tên lửa , nhiệt nhôm và các thành phần của pháo hoa .

    biến hóa nhiệt nhôm dùng để phối chế các kim khí có nhiệt độ nóng chảy cao ( như crôm Cr Vonfarm W... )

    Sự phổ thông , phối chế [ sửa sửa mã nguồn ] Đồng vị bền của nhôm được tạo ra khi hydro hợp hạch với magiê hoặc trong các sao lớn hoặc trong các vụ nổ siêu tân tinh . [17]



    mặc dù nhôm là nguyên tố phổ quát trong vỏ trái đất ( 8 , 3% theo khối lượng ) [18] , nó lại hiếm trong dạng tự do và đã từng được cho là kim loại quý đáng được coi trọng hơn vàng ( Người ta nói rằng Napoleon III của Pháp có các bộ đồ ăn bằng nhôm dự phòng cho những người khách quý nhất của ông. Những người khách khác chỉ có bộ đồ ăn bằng vàng ). Vì thế nhôm là kim loại tự do tương đối mới trong Công lao và được sản xuất với số lượng Công lao chỉ khoảng trên 100 năm.



    Nhôm khi mới được phát hiện là cực kỳ khó Chia ra khỏi các loại đá có chứa nó. Vì tất nhôm của trái đất tồn tại dưới dạng các hợp chất nên nó là kim khí khó nhận được nhất. Lý do là nhôm bị ôxi hóa rất nhanh và ôxít nhôm là một hợp chất cực kỳ vững bền , không giống như gỉ sắt , nó không bị bong ra.



    Sự tái chế nhôm từ các phế thải đã trở thành một trong những thành phần quan yếu của công nghiệp luyện nhôm . Việc tái chế đơn giản là nấu chảy kim khí , nó rẻ hơn rất nhiều so với làm ra từ quặng. Việc tinh chế nhôm tiêu hao nhiều điện năng; việc tái chế định mức hao khoảng 5% năng lượng để làm ra ra nó trên cùng một khối lượng sản phẩm. Mặc dù cho đến đầu thập niên 1900 , việc tái chế nhôm không còn là một khu vực mới. Tuy nhiên , nó là lĩnh vực hoạt động trầm lắng cho đến tận những năm cuối thập niên 1960 khi sự Phát nổ của việc sử dụng nhôm để làm vỏ của các loại đồ uống , kể từ đó việc tái chế nhôm được đưa vào trong tầm chú ý của cộng đồng. Các nguồn tái chế nhôm bao gồm ô tô cũ , cửa và cửa sổ nhôm cũ , các thiết bị Nhà ở cũ , contenơ và các sản phẩm khác.



    Nhôm là một kim loại hoạt động và rất khó phân lập nó ra từ quặng , ôxít nhôm ( Al 2 O 3 ). Việc khử trực tiếp , nếu với cacbon , là không kinh tế vì ôxít nhôm có điểm nóng chảy cao ( khoảng 2.000 °C ). Bởi thế , nó được Chia ra bằng cách điện phân – ôxít nhôm được hòa tan trong cryôlit nóng chảy và sau đó bị khử bởi dòng điện thành nhôm kim loại. Theo công nghệ này , nhiệt độ nóng chảy của hỗn hợp chỉ còn khoảng 950-980 °C. Cryôlit nguyên thủy được tìm thấy như một khoáng vật ở Greenland , nhưng sau thời gian ấy được thay thế bằng cryôlit tổng hợp. Cryôlit là hỗn tạp của các florua nhôm , natri và canxi ( Na 3 AlF 6 ). Ôxít nhôm trong dạng bột màu trắng thu được từ quặng bôxít tinh chế , quặng này có màu đỏ vì chứa khoảng 30-40% ôxít sắt. Nó được tinh luyện theo công nghệ Bayer . Trước khi có công nghệ này , công nghệ được sử dụng là công nghệ Deville .



    Công nghệ điện phân thay thế cho công nghệ Wöhler , là công nghệ khử clorua nhôm khan với kali .



    Các điện cực trong điện phân ôxít nhôm làm từ cacbon . Khi quặng bị nóng chảy , các ion của nó chuyển động tự do. Biến hóa tại catốt mang điện âm là:



    Al 3+ + 3e - → Al

    Ở đây các ion nhôm bị chuyển biến ( nhận thêm điện tử ). Nhôm kim loại sau đó chìm xuống và được đưa ra khỏi lò điện phân.



    Tại cực dương ( anode ) ôxy dạng khí được tạo thành:



    2O 2- → O 2 + 4e -

    Cực dương cacbon bị ôxi hóa bởi ôxy . Cực dương bị hao mòn dần và phải được thay thế thường xuyên , do nó bị mất mát do phản ứng:



    O 2 + C → CO 2

    trái lại với anốt , các catốt cơ hồ không bị tiêu hao trong quá trình điện phân do không có ôxy ở gần nó. Catốt cacbon được trông coi bởi nhôm lỏng trong lò. Các catốt bị bào mòn cốt tử là do các phản ứng điện hóa. Sau 5-10 năm , phụ thuộc vào dòng điện sử dụng trong quá trình điện phân , các lò điện phân cần phải tu sửa tuốt do các catốt đã bị bào mòn hoàn toàn.



    Điện phân nhôm bằng công nghệ Hall-Héroult mất mát nhiều điện năng , nhưng các công nghệ khác xoành xoạch có khuyết điểm về mặt kinh tế hay môi trường hơn công nghệ này. Thời hạn hao hụt năng lượng phổ biến là khoảng 14 , 5-15 , 5 kWh/kg nhôm được sản xuất. Các lò đương đại có mức tiêu thụ điện năng khoảng 12 , 8 kWh/kg. Dòng điện để thực hành nghề nghiệp điện phân này đối với các công nghệ cũ là 100.000-200.000 A . Các lò ngày nay làm việc với cường độ dòng điện khoảng 350.000 A. Các lò thí nghiệm làm việc với dòng điện khoảng 500.000 A.



    Năng lượng điện chiếm khoảng 20-40% trong giá thành của làm ra nhôm , nước phụ thuộc vào nơi đặt lò nhôm. Các lò luyện nhôm có khuynh hướng được đặt ở những lĩnh vực mà nguồn cung cấp điện rất nhiều với giá điện rẻ , như Nam Phi , đảo miền nam New Zealand , Úc , Trung Quốc , Trung Đông , Nga và Québec ở Canada .



    Trung Quốc hiện là nhà sản xuất nhôm lớn nhất thế giới ( năm 2004 ).



    Đồng vị [ sửa sửa mã nguồn ] Nhôm có chín đồng vị , số Z của chúng từ 23 đến 30. Chỉ có Al-27 ( đồng vị yên ổn ) và Al-26 ( đồng vị phóng xạ , t 1/2 = 7 , 2 × 10 5 năm ) tìm thấy trong tự nhiên , tuy nhiên Al-27 có sự phổ quát trong tự nhiên là 100%. Al-26 được sản xuất từ agon trong khí quyển do đụng chạm sinh ra bởi các tia vũ trụ proton . Các đồng vị của nhôm có ứng dụng thực tế trong việc tính tuổi của trầm tích dưới biển , các vết mangan , nước đóng băng , thạch anh trong đá lộ thiên , và các tinh thạch. Tỷ lệ của Al-26 trên beryli-10 được sử dụng để Học hỏi vai trò của việc chuyển hóa , lắng đọng , lưu trữ trầm tích , thời gian cháy và sự xâm thực trong thang độ thời kì 105 đến 106 năm ( về sai số ).



    Al-26 nguyên lai vũ trụ đi hàng đầu được sử dụng để Học hỏi trăng và các tinh thạch . Các thành phần của tinh thạch , sau khi thoát khỏi nguyên lai của chúng , trong khi ngao du trong không gian bị tấn công bởi các tia vũ trụ , sinh ra các nguyên tử Al-26. Sau khi rơi xuống trái đất , tấm chắn khí quyển đã canh giữ cho các phần tử này không sinh ra thêm Al-26 , và sự phân rã của nó có khả năng sử dụng để rõ ràng tuổi trên địa cầu của các thiên thạch này. Các nghiên cứu về thiên thạch cho thấy Al-26 là tự do tương đối phổ thông trong thời kì hình thành hệ hành tinh của chúng tôi. Có khả năng là năng lượng được giải phóng bởi sự phân rã Al-26 liên đới đến sự nấu chảy lại và sự sai biệt của một số tiểu hành tinh sau khi chúng hình thành cách đây 4 , 55 tỷ năm. [19]



    Cụm [ sửa sửa mã nguồn ] Trong tạp chí Science ngày 14 tháng 1 năm 2005 đã thông báo rằng các cụm 13 nguyên tử nhôm ( Al 13 ) được tạo ra có thuộc tính giống như nguyên tử iốt ; và 14 nguyên tử nhôm ( Al 14 ) có tính chất giống như nguyên tử kim loại kiềm thổ . Các nhà Học hỏi còn kết liên 12 nguyên tử iốt với cụm Al 13 để tạo ra một lớp mới của pôlyiốtua . Sự phát kiến này được thông báo là Cởi ra khả năng của các phản ứng mới của bảng tuần hoàn các nguyên tố : "các nguyên tố cụm". Nhóm nghiên cứu dẫn đầu bởi Shiv N. Khanna ( Đại học Virginia Commonwealth ) và A. Welford Castleman Jr ( Đại học tiểu bang Penn ). [20]



    báo trước [ sửa sửa mã nguồn ] Nhôm là một trong ít các nguyên tố phổ quát nhất mà không có chức năng có ích nào cho các cơ thể sống , nhưng có một số người bị dị ứng với nó — họ bị các chứng viêm da do gặp mặt với các dạng khác nhau của nhôm: các vết ngứa do sử dụng các chất làm se da hay hút mồ hôi ( phấn rôm ) , các rối loạn tiêu hóa và giảm hay mất khả năng tiếp nhận các chất dinh dưỡng từ thức ăn nấu trong các nồi nhôm , nôn ọe hay các triệu chứng khác của ngộ độc nhôm do ăn ( uống ) các sản phẩm như Kaopectate® ( thuốc chống đi rửa ) , Amphojel® và Maalox® ( thuốc chống chua ). Đối với những người khác , nhôm không bị coi là chất độc như các kim khí nặng , nhưng có dấu hiệu của bị trúng độc nếu nó được hấp thu nhiều , mặc dù việc sử dụng các đồ Bếp bằng nhôm ( phổ quát do khả năng chống ăn mòn và dẫn nhiệt tốt ) nhìn chung chưa cho thấy dẫn đến tình trạng bị trúng độc nhôm. Việc tiêu thụ qua nhiều các thuốc chống chua chứa các hợp chất nhôm và việc sử dụng quá nhiều các chất hút mồ hôi chứa nhôm có lẽ là nguồn duy nhất sinh ra sự ngộ độc nhôm. Người ta ý là nhôm liên đới đến bệnh Alzheimer , mặc dù các nghiên cứu gần đây đã bị bác bỏ.



    Cần cẩn thận để không cho nhôm tiếp xúc với một số chất hóa học nào đó có xác xuất ăn mòn nó rất nhanh. Ví dụ , chỉ một lượng nhỏ thuốc độc gặp mặt với bề mặt của miếng nhôm có khả năng gây thiệt hại nhiều lớp ôxít nhôm canh giữ bình thường có trên bề mặt các tấm nhôm. Trong vài giờ , thậm chí cả một cái xà có cấu trúc nặng nề có xác xuất bị làm yếu đi một cách rõ rệt. Vì lý do này , các loại nhiệt biểu thạch tín không được phép trong nhiều sân bay và hãng quáng dã , vì nhôm là thành phần cấu trúc cơ bản của các máy bay.



    Hóa học [ sửa sửa mã nguồn ] thể trạng ôxi hóa 1 [ sửa sửa mã nguồn ] AlH được điều chế khi nhôm bị nung nóng ở nhiệt độ 1500 °C trong hiđrô .

    Al 2 O được điều chế bằng cách nung nóng ôxít bình thường , Al 2 O 3 , với silic ở nhiệt độ 1800 °C trong chân không .

    Al 2 S được phối chế bằng cách nung nóng Al 2 S 3 với vỏ nhôm ở nhiệt độ 1300 °C trong chân không. Nó mau chóng bị chuyển thành các chất ban đầu. Selenua được điều chế tương tự.

    AlF , AlCl và AlBr tồn tại trong pha khí khi ba halua được nung nóng cùng với nhôm.

    trạng thái ôxi hóa 2 [ sửa sửa mã nguồn ] Subôxít nhôm , AlO có xác xuất được tồn tại khi bột nhôm cháy trong ôxy .

    trạng thái ôxi hóa 3 [ sửa sửa mã nguồn ] quy tắc Fajans chỉ ra rằng cation hóa trị ba Al 3+ là không được mong chờ tìm thấy trong các muối khan hay trong các hợp chất nhị phân như Al 2 O 3 . Hiđrôxít nhôm là một bazơ yếu và muối nhôm của các axít yếu , chả hạn như cacbonat , không thể tạo ra. Muối của các axít mạnh , chả hạn như nitrat , là ổn định và hòa tan trong nước , tạo thành các hiđrat với ít ra sáu phân tử nước kết tinh .

    Hiđrua nhôm , ( AlH 3 ) n , có thể sản xuất từ trimêthyl nhôm và hiđrô dư dả. Nó cháy kèm nổ trong không khí. Nó cũng có khả năng được phối chế bằng phản ứng của clorua nhôm trên hiđrua liti trong dung dịch ête , nhưng chẳng thể Cô đơn thành dạng không bị các nghĩa vụ hoặc trách nhiệm trói buộc từ dung dịch.

    Cacbua nhôm , Al 4 C 3 được sản xuất bằng cách nung nóng hổ lốn hai nguyên tố trên 1.000 °C. Các tinh thể màu vàng nhạt có kiến trúc lưới không đơn giản , và đặc tính với nước hay axít loãng tạo ra mêtan . Axêtylua , Al 2 ( C 2 ) 3 , được điều chế bằng cách cho axêtylen đi qua nhôm nóng.

    Nitrua nhôm , AlN , có thể được làm ra từ các nguyên tố ở nhiệt độ 800 °C. Nó bị thủy phân bởi nước tạo ra amôniắc và hiđrôxít nhôm .

    Phốtphua nhôm , AlP , được sản xuất na ná , và bị thủy phân thành phốtphin ( PH 3 ).

    Ôxít nhôm , Al 2 O 3 , tìm thấy trong tự nhiên như là corunđum , và có khả năng pha chế bằng cách đốt nóng nhôm với ôxy hay nung nóng hiđrôxít , nitrat hoặc sulfat. Như là một loại đá quý , độ cứng của nó chỉ thua có kim cương , nitrua bo và cacborunđum . Nó Hầu như không hòa tan trong nước.

    Hiđrôxít nhôm có thể được phối chế như là một chất kết tủa dạng gelatin bằng cách cho thêm amôniắc vào trong dung dịch của các muối nhôm. Nó là lưỡng tính , vừa là bazơ yếu vừa là axít yếu , có thể tạo ra các muối aluminat với kim khí kiềm . Nó tồn tại trong các dạng tinh thể khác nhau.

    Sulfua nhôm , Al 2 S 3 , có xác xuất điều chế bằng cách cho sulfua hiđrô đi qua bột nhôm. Nó là một chất đa hình.

    Florua nhôm , AlF 3 , có khả năng pha chế bằng cách cho hai nguyên tố hiệu quả với nhau hay cho hiđrôxít nhôm tác dụng với HF. Nó gây nên phân tử lớn , bay hơi không qua pha nóng chảy ở nhiệt độ 1.291 °C ( thăng hoa ). Nó là một chất rất trơ. Các trihalua khác là các chất dime , có cấu trúc cầu nối.

    Các hợp chất hữu cơ của nhôm có công thức chung AlR 3 tồn tại và nếu không phải là các phân tử lớn , thì là các chất dime hay trime . Chúng được sử dụng trong tổng hợp chất hữu cơ , nếu trimêtyl nhôm .

    Các chất alumino-hyđrua của phần lớn các nguyên tố có khả năng tích điện dương đã được biết , trong đó quý báu nhất là hiđrua nhôm liti , Li[AlH 4 ]. Khi bị đốt nóng , nó phân hủy thành nhôm , hiđrô và hiđrua liti , nó bị thủy phân trong nước. Nó có nhiều vận dụng trong hóa hữu cơ. Các alumino-halua [AlR 4 ] có cấu trúc tương tự.

    có tác động đến một điều gì đó lên thực vật [ sửa sửa mã nguồn ] Nhôm Ấy là một trong những yếu tố làm giảm sự tăng trưởng thực trên các đất chua. Mặc dầu nó không đặt vào thế bất lợi đối với sự phát triển của thực vật ở các đất có độ pH trung tính , khi nồng độ của cation Al 3+ trong đất chua tăng và làm rối loạn sự phát triển và chức năng của rễ. [21] [22] [23] [24]



    hầu hết các đất chua được bảo hòa với nhôm hơn là các ion hydro. Độ pH của đất là Cuối cùng của quá trình thủy phân các hợp chất nhôm. [25] Khái niệm dùng vôi để sắp xếp độ chua [26] để rõ ràng mực độ bảo hòa cơ sở trong các loại đất là cơ sở cho các công đoạn thí nghiệm đất trong phòng thí nghiệm , từ đó chính xác lượng vôi nhu yếu [27] cung cấp cho đất. [28]





    Quy trình làm ra nhôm định ảnh

    Quy trình làm ra nhôm được thực hành theo thời hạn ISO 9001:2008 sử dụng công nghệ sản xuất nhôm tiên tiến , cho sản phẩm đạt chất lượng và độ an toàn cao.

    quy trinh san xuat nhom thoi

    1. Nguyên liệu được nhập về dưới dạng thỏi thô , gọi là phôi nhôm.



    2. Thỏi nhôm được thẩm tra phân tích thành phần kim loại trước khi đưa vào lò nấu.



    3. Quá trình đúc nguyên liệu:



    đầu tiên là quá trình đúc phôi , sản phẩm nhôm nguyên chất Igot được đưa vào lò nung chảy ở nhiệt độ 660 độ C và tới nhiệt độ sôi , tiếp đến diễn ra quá trình hợp kim khí và quá trình này sẽ quyết định chủng loại nhôm đúc là nhôm nào , sản phẩm hợp kim nhôm đã nấu chảy được rót vào khuôn để thành hình billet và quá trình này sẽ cho ra các loại sản phẩm đường kính khác nhau theo yêu cầu , billet sau đúc được đồng dục để tạo sự đồng đều của hợp kim và ổn định của cấu trúc sau đó nó được cắt thành các đoạn tiêu chẩn và ra phôi là billet.



    Công đoạn chế tác billet

    quy trình làm ra nhôm quá trình đúc phôi trong quy trình làm ra nhôm







    4. Phôi nhôm sau khi phân tách thành phần kim khí đạt request sẽ được cắt thành từng đoạn nhỏ phù hợp với từng loại thanh nhôm rồi đem gia nhiệt và chuyển vào máy ép cho ra thanh nhôm định ảnh theo khuôn đã thiết kế.



    5. Thanh nhôm vừa ép ra tiếp kiến được đưa vào lò hấp để xử lý độ cứng cho thanh nhôm có được sự rắn chắc cần thiết.



    6. Sau khi xử lí độ cứng thanh nhôm phải qua khâu kiểm tra chức năng vật lý. Nếu đạt request các chức năng vật lý sẽ được đem đi xử lý bề mặt.



    7. Quá trình xử lí bề mặt cho ra 3 dòng sản phẩm khác nhau: Xi dương cực , sơn tĩnh điện , sơn vân gỗ.



    Công đoạn định hình nhôm



    quá trình đúc phôi trong quy trình làm ra nhôm





    Công nghệ sản xuất nhôm định ảnh

    + Phân xưởng đùn ép thanh nhôm định ảnh chất lượng cao



    + Phân xưởng anode xử lí và trang trí bề mặt thanh nhôm bằng biện pháp Anode hoá.



    + Phân xưởng sơn tĩnh điện và phủ film , xử lí và trang hoàng bề mặt thanh nhôm bằng phương pháp sơn tĩnh điện và phủ film.



    kiểm tra

    - Máy phân tách thành phần của sản phẩm



    - Máy thẩm tra dị tật đầu vào và đầu ra của sản phẩm



    - Máy phân tách tổ chức kim loại , Máy gia công khuôn điều khiển CNC , phòng phân tách bể hoá chất Anod và tiền xử lí



    - Máy thử độ bền kéo , thử độ bền uấn , Máy đo độ cứng bề mặt , Máy chính xác chiều dày của lớp phủ bề mặt , Máy thử độ mất màu



    Vật tư làm ra nhôm định hình

    + nguyên liệu cho khâu đùn ép – Billet 100% nhập cảng từ Australia , Malaysia , Thái lan và một số nước công nghiệp tiên tiến , Billet đều được biến tính Bo và Ti , và đồng hoá , đều được kiểm tra qua máy thẩm tra khuyết tật trước khi đùn ép , đảm bảo tạo ra được những sản phẩm nhôm thanh định ảnh chất lượng cao đáp ứng được các công trình có request cao về chất lượng.



    chương trình Billet:



    thời hạn về thành phần hoá học:



    + nguyên liệu cho khâu đùn ép – Billet 100% nhập khẩu từ Australia , Malaysia , Thái lan và một số nước Công lao tiền tiến , Billet đều được biến tính Bo và Ti , và đồng hoá , đều được thẩm tra qua máy thẩm tra khuyết tật trước khi đùn ép , đảm bảo tạo ra được những sản phẩm nhôm thanh định hình chất lượng cao đáp ứng được các công trình có yêu cầu cao về chất lượng.

    Có 0 người thích bài viết này:
    Có 0 người không thích bài viết này:

  2. #2
    Member
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    45
    Thanks
    0
    Được Thanks 0 lần trong 0 bài
    DNTN TM Nhôm - Sắt Đại Phúc Linh

    email: lephuc.business@gmail.com

    TEL: 0937655551 Mr PHÚC - 0983994326 Mrs LINH

    VĂN PHÒNG : THIÊN PHƯỚC P9 TÂN BÌNH, TP.HCM






    Doanh nghiệp QTH chúng tôi chuyên cung cấp các loại nhôm thanh định hình cao cấp theo công nghệ tiên tiến nhất hiện nay. Qua nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực này, công ty chúng tôi không ngừng phát triển về mọi mặt để cho ra đời những sản phẩm đạt chất lượng tốt nhất.Với hơn khoảng 200 kiểu dáng sản phẩm khác nhau theo từng nghành nghề đáp ứng hầu hết nhu cầu của khách hàng trong mọi lĩnh vực như : xây dựng, trang trí nội ngoại thất và những sản phẩm phục vụ công nghiệp trong và ngoài nước. Đồng thời nhằm đáp ứng nhu cầu quý khách hàng chúng tôi còn nhận thêm gia công theo khuân mẫu, sơn tĩnh điện...Quý khách có thể tham khảo thêm từ trang Wed

    nhôm hộp đèn quảng cáo

    Danh sách các sản phẩm như sau:

    - nhôm thanh hộp đèn led làm quảng cáo các loại led 3 phân, led 5 phân, led 7 phân, led 8 phân (led 3D), led 9 phân, led siêu mỏng, led matrix,....




    - nhôm thanh V các loại kích thước từ v15 đến v35x45, độ dày mỏng khác nhau liên hệ chúng tôi để biết thêm chi tiết.



    ================================================== ================================================== ================================================== ================================================== ==Nhôm là kim khí nhẹ quan yếu nhất trong cuộc sống con người và là một trong bốn kim loại màu cơ bản. Bây giờ , nhôm và các hợp chất của nhôm được sử dụng thông đạt các ngả trong nhiều lĩnh vực sản xuất và Chỗ ở như chế tạo máy bay , ôtô , kỹ thuật điện , xây dựng , sản xuất gạch chịu nhiệt , làm ra sơn , phèn , công cụ Nhà ở , ... Về khối lượng sử dụng , nhôm chỉ đứng sau thép. Nhôm còn được sử dụng nhiều trong công nghiệp tài tực , nên được coi là một trong những kim khí chiến lược.



    >> Bài liên quan: Từ bauxite đến nhôm



    Phát triển công nghiệp nhôm sẽ góp phần công nghiệp hóa và đương đại hóa núi sông , tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp liên hệ ở trung ương và địa phương , phát triển kinh tế từng lớp , nâng cao dân trí cho đồng bào vùng miền núi. Công nghiệp nhôm phát triển sẽ góp phần tăng kim ngạch xuất cảng , cân đối ngoại tệ , tăng thu ngân sách , tạo công ăn việc làm và cải thiện Chỗ ở cho hàng vạn người lao động.



    Nếu chỉ tính riêng ngoại tệ để nhập nhôm kim khí , hàng năm nước ta phải như một lượng ngoại tệ lớn như sau:



    Năm 2000 : khoảng 160 triệu USD



    Năm 2005 : khoảng 250 triệu USD



    Năm 2010 : khoảng 390 triệu USD



    Năm 2015 : khoảng 480 triệu USD



    Trong tự nhiên , do hoạt tính cao nên nhôm chỉ tồn tại ở dạng các hợp chất , cốt tử trong các loại khoáng là felspat ( trường thạch ) và glimme cũng như sản phẩm phong hóa của chúng là các loại đất sét. Trong số các felspat và glime gồm có : kali felspat ( KAlSi 3 O 8 , natri felspat ( NaAlSi 3 O 8 ) , canxi felspat CaAl 2 Si 2 O 8 , muscovit KAl 2 ( AlSi 3 O 10 )( OH , F ) 2 , margarit CaAl 2 ( Al 2 Si 2 O 10 )( OH ) 2 , zyanit Al 2 O( SiO 4 ) , ... Trong số các loại đất sét chứa nhôm thì quan trọng nhất là boxit với thành phần là hỗn tạp các khoáng nhôm hydroxit khác nhau , tiếp theo là cao lanh có thành phần chủ yếu là Al 4 ( OH ) 8 Si 4 O 10 , kryolit với thành phần là Na 3 ( AlF 6 ) , và một số khoáng đất sét chứa nhôm với hàm lượng canxi , manhê hoặc sắt oxit cao.



    I. QUẶNG BOXIT



    Boxit là nham thạch có màu từ trắng đến đen , cốt yếu là hổ lốn các hợp chất vô cơ và nhôm hydoxit. Loại boxit thường gặp có vẻ đan. Các loại hình quặng boxit quan yếu là bơsmit , gipsit ( hydragilit ) , diaspo , alumogel.



    Boxit có thành phần nông dân tương đối Rắc rối , nhưng chính yếu là hỗn hợp các khoáng nhôm hydroxit , thường bị nhiễm bẩn bởi sắt oxit ( tạo ra vẻ son cho quặng ) hoặc silic oxit. Thành phần hóa học của boxit dao động giữa 50-63% Al 2 O 3 , 12-32 % H 2 O , 15-25 % Fe 2 O 3 , 2-10 % SiO 2 và 2-5 % TiO 2 .



    Hàm lượng nhôm oxit và silic oxit là những nhân tố quyết định chất lượng của quặng boxit.



    Nhôm oxit trong quặng boxit cốt yếu ở trong thành phần của hydroxit như diaxpo , bơmit , gipsit hoặc bayerit. Ngoại giả , nhôm oxit trong boxit còn có thể ở dạng corundum và trong thành phần nông dân khoáng của nhóm caolinit.



    Silic oxit trong quặng boxit nằm ở thể trạng tự do , nhưng cũng có khả năng trong thành phần nông dân khoáng alumosilicat và aluomopherosilicat. Silic oxit có có tác động đến một điều gì đó gây thiệt hại cho quá trình hòa tan quặng boxit , vì nó gây nên natri alumosilicat ít tan , làm tăng tiêu hao kiềm và nhôm , song song làm tắc đường ống và thiết bị.



    Sắt trong quặng boxit có khả năng thuộc vào các nhóm sau:



    - Nhóm oxit và hydroxit bao gồm hematit ( a -Fe 2 O 3 , g -Fe 2 O 3 ) , hydrohematit ( Fe 2 O 3 aq. ) , manhêtit ( Fe 3 O 4 ) , hetit ( HFeO 2 ) , limonit ( HFeO 2 aq. ).



    - Nhóm cacbonat bao gồm siderit FeCO 3 , ankerit Ca( MgFe( CO 3 ) 2



    - Nhóm silicat gồm samozit với thành phần cốt yếu là FeO , Al 2 O 3 , SiO 2 .



    - Nhóm sulfit và sunfat như FeS 2 , FeSO 4 .7H 2 O , Fe( SO 3 )( OH ).2H 2 O , KFe( SO 2 )( OH ) 3 .



    Titan oxit trong quặng boxit cũng ở trạng thái không bị các nghĩa vụ hoặc trách nhiệm trói buộc là rutin và anataz , hoặc ở các dạng hợp chất khác nhau như sphen CaTiO 2 SiO 2 , perobskit CaTiO 3 , ilmenit FeTiO 3 . Các hợp chất titan có xác xuất có tác động đến một điều gì đó bất lợi cho quá trình hòa tan nhôm..



    1. Tiềm n ăng qu ặng boxit của Việt Nam:



    kết quả dò hỏi địa chất đã phát hiện trên cương vực nước ta có trữ lượng quặng boxit sản vật phong phú ở cả Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam. Tổng trữ lượng quặng boxit của Việt Nam ước tính khoảng 8 tỷ tấn , trong đó có 7 , 6 tỷ tấn ở các tỉnh Tây Nguyên. Với trữ lượng như vậy , nước ta đứng trong số các nước có trữ lượng boxit lớn trên thế giới.



    Quặng boxit là nguồn tài nguyên lớn của nước ta , là cơ sở để hình thành ngành công nghiệp luyện nhôm , là nguồn lực quan yếu trong quá trình Công lao hóa , đương đại hóa đất nước.



    mặc dầu nhôm kim khí là sản phẩm quan yếu cho ngành kinh tế quốc dân và nước ta có sẵn nguồn vật liệu cũng như các hoàn cảnh khác để sản xuất nhôm kim khí ( thuỷ điện , nhân lực... ) nhưng ngày nay chúng tôi vẫn chưa làm ra được nhôm kim loại. Vì vậy , một trong mục tiêu mà chính phủ đã đề ra là xây dựng mới ngành Công lao nhôm Việt Nam , đáp ứng nhu cầu nhôm trong nước , tranh thủ xuất biên một phần sản phẩm sang các nước xung quanh , tạo cơ sở vật chất kỹ thuật ban sơ và hàng ngũ quản lý , kỹ thuật , đồng thời tích luỹ vốn để phát triển Công lao nhôm lâu dài với quy mô lớn , nhằm khai thác nguồn boxit sẵn có để xuất cảng các sản phẩm alumin và nhôm.



    Việt Nam có hai loại hình quặng boxit:



    1/ Loại quặng bơsmit và diaspo , tập trung chính yếu ở Miền Bắc Việt Nam , phân bố ở các tỉnh Hà Giang , Cao Bằng , Lạng Sơn , Bắc Giang ). Tổng trữ lượng dự đoán khoảng trên 350 triệu tấn , hàm lượng nhôm ngả nghiêng trong khoảng 39-65 %. Modul silic ( Al 2 O 3 /SiO 2 ) bằng 5-8. Cụ thể , quặng boxit phân bố như sau:



    - nhóm tụ khoáng Hà Giang: tài nguyên ước lượng khoảng 60 triệu tấn.



    - nhóm tụ khoáng Cao Bằng: tài nguyên ước chừng khoảng 240 triệu tấn.



    - nhóm tụ khoáng Lạng Sơn: tài nguyên đã được thăm dò và ước lượng khoảng 50 triệu tấn.



    - Mỏ Lỗ Sơn ( Hải Dương ) có trữ lượng cấp B là 97.000 tấn , trữ lượng cấp C 1 là 24.000 tấn , với hàm lượng như sau:



    Al 2 O 3 : 52 %



    SiO 2 : 6 , 4 %



    Fe 2 O 3 : 26 %



    TiO 2 : 2 %



    CaO : 0 , 53 %



    MgO : 0 , 24 %



    Mất khi nung : 12 %



    - Vùng Quỳ Hợp - Quỳ Châu có tài nguyên dự tính khoảng 1 triệu tấn với hàm lượng như sau:



    Al 2 O 3 : 30 - 50%



    SiO 2 : 2 , 12 - 36%



    Fe 2 O 3 : 18 - 30%



    2/ Loại quặng gipsit , tập kết chính yếu ở Tây Nguyên và Miền Nam Việt Nam , với tổng trữ lượng ước tính khoảng 7 , 6 tỷ tấn.



    Trữ lượng quặng boxit đã được thăm dò và chứng minh ở Tây Nguyên và Miền Nam Việt Nam là khoảng 2772 triệu tấn. Trong đó cụt các chuye như sau:



    * Tài nguyên vùng Đắc Nông - Phước Long khoảng 1.570 triệu tấn



    * Tài nguyên boxit vùng Lâm Đồng tập trung ở hai tụ khoáng là Tân Rai và Bảo Lộc.



    - Trữ lượng vùng khoáng Tân Rai khoảng 57 triệu tấn cấp C 1 , 120 triệu tấn cấp C 2 , hàm lượng như sau:



    Al2O3 44 , 69 %

    SiO2 2 , 61 %

    Fe2O3 23 , 35 %

    TiO2 3 , 52 %

    Mất khi nung

    24 , 3 %





    - Trữ lượng vùng tụ khoáng Bảo Lộc khoảng 378 triệu tấn.



    nhìn chung , quặng boxit nguyên khai ở Lâm Đồng đều có chất lượng không cao , hàm lượng Al2O3 chỉ khoảng 35 - 37%. Địa ngục ta phải tuyển rửa quặng nguyên khai để thu được tinh quặng giàu nhôm hơn. Sau khi tuyển , tinh quặng boxit ở các tụ khoáng Lâm Đồng cũng chỉ đạt hàm lượng 45 - 49% Al2O3.

    ngoại giả , quặng boxit miền Nam còn có ở các vùng Kon Plong , Phú Yên , Quảng Ngãi , với trữ lượng khoảng 106 triệu tấn. Nhìn chung , boxit Việt Nam ở hồ hết các vùng đều có thể khai khẩn lộ thiên.



    Tuy nhiên , trừ những khu mỏ lớn ở Lâm Đồng , trữ lượng quặng còn lại được kết cấu dàn trải , vỉa quặng không dày và hồ hết đều nằm trong các vùng canh tác nông , lâm nghiệp , nên sẽ có những khó khăn nhất quyết trong quá trình khai khẩn để làm ra nhôm quy mô lớn , do va chạm trực tiếp đến việc sử dụng đất làm ruộng , vấn đề cân bằng nước mặt , vấn đề quặng thải , Sự tình nước thải và nhìn chung là vấn đề sinh thái.



    2. Ứng dụng



    ứng dụng chính yếu của boxit là làm vật liệu cho Công lao luyện nhôm. Bộ môn công nghiệp làm ra nhôm kim khí tiêu thụ 85% quặng boxit trên toàn thế giới. Phần boxit còn lại được sử dụng trong hai lĩnh vực là làm ra alumin chuyên dùng ( 10% ) , bao gồm alumin nung và alumin hoạt hóa , và làm ra nguyên liệu chịu nhiệt ( 5% ) , giá dụ gạch chịu nhiệt , ximăng chịu nhiệt và các vật liệu mài.



    II. QUẶNG CAO LANH



    Quặng cao lanh là nham thạch mịn , tỷ trọng cao , cốt yếu gồm khoáng caolinit có lẫn tạp chất , được làm nên khi phong hóa các nham thạch felspat macma khác nhau. Cao lanh thuần khiết màu trắng tinh , nhưng quặng cao lanh thường thấy các màu khác nhau do nhiễm các tạp chất sắt và mangan. Thành phần hóa học chính yếu là Al 4 ( OH ) 8 Si 4 O 10 , với các tạp chất như thạch anh , muskovit , rutil , zircon , manhêtit và felspat chưa phong hóa hết. Quặng cao lanh hình thành do sự phong hóa các silikat nhôm , đặc biệt là các loại felspat. Phần nhiều quặng cao lanh tồn tại ở các mỏ nguyên sinh , đôi khi ở các mỏ thứ sinh , ít khi ở dạng đất sét.



    1. Tiềm n ăng qu ặng cao lanh của Việt Nam:



    Quặng cao lanh nước ta được phân bố ở nhiều nơi như: Lào Cai , Yên Bái , Phú Thọ , Thái Nguyên , Tuyên Quang , Hải Dương , Quảng Ninh , Đà Lạt , Đồng Nai , Sông Bé. Trong đó những mỏ quặng cao lanh đã được dò hỏi , khai thác là:



    - Mỏ Thạch Khóan , Phú Thọ gồm 4 vùng với tổng trữ lượng đã chính xác khoảng 3 , 2 triệu tấn. Trong số đó , vùng mỏ cao lanh Hữu Khánh là vùng mỏ đáng được coi trọng Công lao với hàm lượng quặng như sau:



    Al 2 O 3 18 - 49%

    SiO 2 47 , 5 - 76 , 1%

    Fe 2 O 3 0 , 11 - 2 , 9%

    Mất khi nung 9 , 81%







    - Mỏ Trại Mật , Lâm Đồng , với tổng trữ lượng đã dò hỏi là 11 triệu tấn. Mỏ có 4 thân quặng , dày trung bình 20 m. Hàm lượng trung bình như sau:



    Al 2 O 3 18 - 49%

    SiO 2 22 , 8 - 65%

    Fe 2 O 3 0 , 5 - 7 , 9%

    Mất khi nung 0 , 16 - 22 , 5%







    Trong tổng trữ lượng đã được dò hỏi ở mỏ Trại Mật , khoảng 3 triệu tấn là có thể khai thác tốt.







    - Mỏ Bảo Lộc hiện đạt công suất khai khẩn , tuyển rửa là 35.000 tấn/năm. Chất lượng quặng boxit tinh sau khi tuyển rửa là:



    Al 2 O 3 : 49%

    SiO 2 : 2 - 3%

    Fe 2 O 3 : 18 - 22%

    TiO 2 : 3 - 4%

    Hàm ẩm : 10%





    - Các mỏ cao lanh Tấn Mài ( Quảng Ninh ) , Trúc Thôn ( Hải Dương ) , Tuyên Quang đã được khai khẩn dùng làm gạch chịu nhiệt cho công ty gang thép Thái Nguyên. Cao lanh Tấn Mài ở dạng dickit và có thành phần hóa học như sau:



    Al 2 O 3 : 37 , 43%

    SiO 2 : 43 , 88%

    Fe 2 O 3 : 0 , 18%

    TiO 2 : 0 , 03%

    Na 2 O: 0 , 03%

    K 2 O : 0 , 05%

    P 2 O 5 : 0 , 09%

    MgO: 0 , 15%

    CaO: 0 , 21%





    ngoài ra , một số mỏ quy mô nhỏ ở các địa phương như Yên Bái , Phú Thọ , Hải Dương , Đồng Nai , Sông Bé đã được sử dụng để khai khẩn cao lanh làm vật liệu làm ra gốm sứ dân dụng , gốm sứ kỹ thuật , phèn nhôm , ...







    2. Áp dụng









    Từ cao lanh thô khai khẩn ở các mỏ , người ta ứng dụng các thủ pháp như rửa bùn , tuyển nổi , thẩm thấu điện , ...để thu được cao lanh kỹ thuật.



    Do những tính chất đặc biệt của nó ( dẻo ở thể trạng ẩm , rất cứng và bền sau khi nung ) nên cao lanh thường được sử dụng để làm ra các sản phẩm gốm sứ. Ngoại giả , cao lanh cũng được sử dụng làm phụ gia bản xuất giấy ( tạo bề mặt nhẵn , hút mực ) , làm ra các nguyên liệu chống thấm trong xây dựng , ... Cao lanh còn là vật liệu quan yếu để sản xuất các hợp chất nhôm.







    III. THỰC TRẠNG khai khẩn VÀ làm ra









    nói chung , các mỏ quặng boxit Việt Nam có những đặc trưng chính như sau:



    phần ưu tú : Mỏ tự do tương đối lớn , lớp đất phủ mỏng , chiều dày lớp chứa quặng đổi thay từ 1 đến 12m , hoàn toàn có thể khai khẩn bằng biện pháp lộ thiên , dễ dàng hoàn thổ và trồng lại rừng hoặc cây công nghiệp , quặng có hàm lượng nhôm oxit ở mức nhàng nhàng , quặng Miền Nam thuộc loại đơn thuần gipsit nên dễ xử lý ở nhiệt độ thấp , đầu tư không lớn , phí tổn vận hành thấp. Tuy quặng nguyên khai có chất lượng không cao nhưng bằng phương pháp tuyển rửa giản đơn có khả năng nhận được tinh quặng có chất lượng tốt để sản xuất alumin theo thủ pháp Bayer.



    Nhược điểm : Lớp quặng mỏng nên khai trường phát triển nhanh , Đại khái hết thảy quặng đều cần phải được tuyển rửa nên mất mát nhiều nước. Đại khái các mỏ đều nằm xa cảng biển , cơ sở hạ tầng chưa phát triển.



    Vì những điểm nêu trên nên theo quan điểm nhiều chuyên gia trong và ngoài nước , quặng boxit Việt Nam nếu xử lý tại chỗ để sản xuất alumin và nhôm thì chất lượng cao hơn mức bình thường hơn là xu ất khẩu quặng.



    1. Sản phẩm nhôm kim loại



    hiện nay , do chưa làm ra được nên chúng tôi phải nhập hết thảy nhôm. Trong mai sau , cùng với sự phát triển kinh tế , nhu cầu về nhôm kim khí sẽ càng ngày càng tăng. Mặt khác , thịt nhập khẩu nhôm ở các nước chung quanh cũng rất lớn. Điều đó đòi hỏi chúng tôi phải chóng vánh phát triển Công lao khai thác boxit và luyện nhôm để đáp ứng nhu cầu trong nước và hướng tới xuất biên nhôm khi có điều kiện.



    Đối với quặng boxit ở khu vực ấn độ dương Lâm Đồng , là nơi có trữ lượng boxit lớn nhất , hiện nay chúng ta mới chỉ khai khẩn và sử dụng để làm ra nhôm oxit và phèn nhôm.



    Trong những năm qua , Tổng công ti khoáng sản Việt Nam và công ty Pechiney ( Pháp ) đã liên doanh tiến hành khảo sát tiền khả thi và thực hành dự án Tổ hợp boxit nhôm Lâm Đồng. Đây là một trong những đề án trọng tâm , có quy mô lớn. Cuối năm 2002 , UBND tỉnh Lâm Đồng đã chính xác lĩnh vực khai khẩn mỏ , tuyển quặng và vịt xiêm xây dựng các nhà máy alumin , điện phân nhôm trong tổ hợp.



    Tổ hợp boxit-nhôm Lâm Đồng nằm ở địa bàn huyện Bảo Lâm ( khu khoáng sàng Tân Rai ) , có tổng vốn đầu tư hơn 667 triệu USD.



    đề án boxit Lâm Đồng bao gồm hai giai đoạn:



    - thời kì đầu từ 2003 đến 2013 , dự kiến tổ hợp boxit - nhôm sẽ đạt công suất hàng năm là 72.300 tấn nhôm điện phân , 300.000 tấn alumin ( trong đó 141 nghìn tấn để điện phân nhôm , còn lại sẽ xuất khẩu ) , khai thác mỏ 1.980.000 tấn quặng nguyên khai. -



    - giai đoạn hai ( thời kì mở rộng ) từ 2013 trở đi , công suất sẽ được nâng lên gấp 2 lần , đạt 146.100 tấn nhôm điện phân , 600.000 tấn alumin ( trong đó 284 nghìn tấn để điện phân nhôm , còn lại sẽ xuất biên ) và khai khẩn mỏ 3.960.000 tấn quặng nguyên khai.



    Trong vài năm qua , 5 thân quặng số 46 , 51 , 52 , 53 , 54 tại khu vực phía tây mỏ Tân Rai đã được lựa chọn đưa vào khai thác phục vụ cho cả dự án , có diện tích 40 km2 , nằm cách thị xã Bảo Lộc 15 km , cách thành thị HCM khoảng 200 km , cách Đà Lạt 120 km. Song song cũng đã Dự bị mặt bằng xây dựng nhà máy alumin và nhà máy điện phân nhôm thuộc địa phận thịt Lộc Thắng huyện Bảo Lâm , có diện tích khoảng 118 , 5 ha. Khu vực khai thác mỏ và tuyển quặng có tổng diện tích 42 km 2 , nằm ở địa bàn thịt Lộc Thắng và hai xã Lộc Phú , Lộc Ngãi ( Bảo Lâm ).



    Về công nghệ khai khẩn , trong quá trình khai khẩn sẽ tiến hành liên hoàn từ bóc đất phủ đến khai thác quặng , thực hành theo công nghệ sử dụng bãi thải trong kết hợp với bãi thải ngoài. Boxit được khai thác chính yếu trên các đỉnh đồi nhằm hạ độ cao và độ dốc của đồi , tạo hoàn cảnh cho việc tái tạo rừng và cây trồng cũng như phát triển kinh tế nông lâm nghiệp sau này. Trong quá trình khai thác và tuyển rửa , lượng bùn thải sẽ được lắng đọng trong của hồ nhân tạo. Nước được thải đi hoặc hồi lưu sau khi đã lắng trong.



    Về công nghệ làm ra nhôm , tổ hợp boxit-nhôm Lâm Đồng ứng dụng công nghệ điện phân tiên tiến của tập đoàn nhôm Pechiney theo phương thức chuyển giao công nghệ , sử dụng điện cực thiêu sẵn , nạp liệu điểm tự động , dòng điện 185 kA , bể điện phân AP-18. Đây là phương pháp điện phân nhôm nóng chảy theo công nghệ Hall-Heroult , tức là điện phân alumin hòa tan trong dung dịch muối nóng chảy criolit ở nhiệt độ 950-960 o C. Phương pháp này là công nghệ sản xuất nhôm Công lao độc nhất , đã tồn tại hơn 100 năm nay. Sản xuất alumin được thực hành theo thủ pháp hoà tách ở 105 o C và áp suất khí quyển.



    Về mặt liên lạc vận tải , trong giai đoạn đầu quặng boxit khai thác được chuyên chở bằng đường bộ , cốt yếu theo tuyến 20. Rồi đây , trong giai đoạn mở rộng sẽ xây dựng tuyến đường sắt Bảo Lộc - Thị Vải để xuất khẩu alumin và nhập khẩu nguyên vật liệu phù hợp cho tổ hợp.



    Theo toan tính , sau 30 năm hoạt động , chỉ với công suất ban đầu đề án sẽ đóng góp cho nhà nước gần 328 triệu USD gồm thuế ngày công doanh nghiệp và thuế tài nguyên. Ngoại giả còn có các nguồn lợi khác như thu ngoại tệ từ xuất khẩu alumin và kiệm ước ngoại tệ do không phải nhập cảng nhôm ( 4709 triệu USD ). Dự án cũng sẽ có những đóng góp rất quan yếu cho sự phát triển kinh tế từng lớp của địa phương.



    2. Các hợp chất nhôm



    ngày nay trên 90% sản lượng Al 2 O 3 kỹ thuật trên thế giới được dùng để luyện nhôm , chỉ khoảng 10 % được sử dụng cho các chuye phi luyện kim. Vì thế vai trò của vật liệu giàu nhôm trở thành rất quan yếu đối với các ngành làm ra gốm , thuỷ tinh , xi măng alumin , phèn nhôm , bột mài , cao su , .. , nhất là khi Việt Nam chưa có ngành Công lao riêng để làm ra vật liệu này.



    Nhôm oxit Al 2 O 3 là nguyên liệu được sử dụng nhiều để làm ra gạch chịu lửa , các sản phẩm thủy tinh , gốm sứ và một số loại xi măng chịu nhiệt. Hàng năm nước ta phải nhập khoảng 10.000 tấn nhôm oxit.



    Nguồn nguyên liệu alumin của nước ta , ngoài boxit Lâm Đồng còn có cao lanh Tấn Mài-Quảng Ninh , cao lanh Yên Bái , boxit Lạng Sơn và Quảng Ninh , ... Có xác xuất nói trữ lượng vật liệu cho Công lao tinh luyện nhôm oxit của Việt Nam khá lớn nên ngành Công lao này có mai sau phát triển tốt.



    Tại nước ta , năm 2001 công ti hóa chất căn bản Miền Nam đã đầu tư dây chuyền sản xuất nhôm oxit có công suất 400 tấn / năm , vận dụng công nghệ lò thoi ngắt quãng từng mẻ. Chất lượng sản phẩm nhôm oxyt của công ty đạt hàm lượng Al 2 O 3 ≥ 99 , 1 % , hàm lượng sắt ≤ 0 , 1 %.



    Nhôm oxit kỹ thuật thường được sản xuất bằng cách nung nhôm hydroxyt ở những nhiệt độ khác nhau như sau :



    - Sấy ở nhiệt độ dưới 300 o C : thu được Al 2 O 3 .3H 2 O dạng hydragilit



    - Sấy tiếp ở 300-400 o C: thu được Al 2 O 3 .H 2 O dạng bơsmit



    - Nung trên 500 o C : thu được g - Al 2 O 3 ( thành phần chính của nhôm oxit kỹ thuật thường nhật )



    - Nung trên 1000 o C : g - Al 2 O 3 chuyển hóa thành a - Al 2 O 3 ( corun , nhôm oxit kỹ thuật nung )



    Hàm lượng Al 2 O 3 thu được có khả năng đạt tới 99 - 99 , 5% tuỳ theo phương pháp rửa và tinh luyện. Đặc biệt độ mịn , hàm lượng pha tinh thể a - Al 2 O 3 ( corun ) và mực độ chuyển hóa thành a - Al 2 O 3 nước phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp nung và cách xử lí nhiệt.



    Nhôm oxyt kỹ thuật sản xuất theo thủ pháp Bayer truyền thống chính yếu chứa khoáng g - Al 2 O 3 . Đây là sản phẩm trung gian sau khi nung nhôm hydroxyt ở nhiệt độ trên 500 o C. Nhược điểm của sản phẩm loại này là hàm lượng tạp chất kiềm Na 2 O cao và khó tách , gây gây thiệt hại cho làm ra gốm và nguyên liệu chịu nhiệt. Khi sử dụng loại nhôm oxyt kỹ thuật này trong Công lao gốm sứ , người ta phải xử lý gia công rất Rắc rối và tốn kém: phải nung sơ bộ ở nhiệt độ cao ( khoảng 1450 o C ) rồi nghiền mịn lại trong máy nghiền bi thép hoặc nghiền rung , tiếp theo phải rửa sắt bằng axit rồi rửa lại bằng nước sạch , rồi mới đưa vào sử dụng trong phối liệu gốm sứ.



    Vào thập niên 1970 - 1980 , trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu xử lý nhôm oxyt kỹ thuật dùng cho gốm và vật liệu chịu nhiệt , nhưng khi áp dụng thực tế thì phí tổn sản xuất quá lớn , công hiệu không cao , giá thành sản phẩm cao nhưng chất lượng lại ngăn lại trong một giới hạn nhất định. Sang thập niên 1990 , bằng những tốt hơn trước kỹ thuật , nhiều công ti hóa chất trên thế giới đã vận dụng thủ pháp sol-gel , sa lắng hóa học hoặc plasma hóa học để sản xuất các loại Al 2 O 3 kỹ thuật nung với độ thuần khiết 99 , 7 % , hàm lượng tạp kiềm < 0 , 05 % , và đặc biệt là có cỡ hạt siêu mịn ( 5-10 mm ) với thành phần pha ≥ 95 % dạng a - Al 2 O 3 . Loại nguyên liệu này đã tạo ra bước đột phá trong Công lao gốm kỹ thuật , mở ra khả năng sản xuất các loại bê tông gốm ít xi măng , siêu ít xi măng hoặc không dùng xi măng thủy lực ( xi măng alumin ) , gốm cắt gọt , gốm bền nhiệt , bền cơ , gốm cách điện cao thế , vật liệu chịu lửa cao , alumin chất lượng cao , ... Có thể nói , trong thế kỷ 21 ngành làm ra nhôm oxyt kỹ thuật nung đã tuyệt đối từ bỏ các công nghệ truyền thống của thập niên 80.



    Với công nghệ mới , giá thành sản phẩm nhôm oxyt nung siêu sạch , kích thước hoặc kết cấu cực kỳ nhỏ không đắt hơn nhiều so với nhôm oxyt kỹ thuật dạng g - Al 2 O 3 truyền thồng. Bởi vậy , ngày nay sản phẩm nhôm oxyt kiểu mới đã trở nên vật liệu phổ quát cho ngành công nghệ gốm kỹ thuật và nguyên liệu chịu nhiệt , bê tông gốm.



    Để sản xuất nhôm oxit a - Al 2 O 3 ( corun ) dùng cho sản xuất các mặt hàng gốm kỹ thuật và nguyên liệu chịu nhiệt cao cấp , các cơ sở trong nước ta cần định hướng theo công nghệ đương đại của các nước đã làm , đó là nung kết tủa từ chế phẩm trung gian keo gel Al 2 ( OH ) 3 để thu được các dạng nhôm oxit kỹ thuật nung siêu mịn , siêu sạch , đạt độ chuyển hóa thành a - Al 2 O 3 ( corun ) trong sản phẩm nhôm oxit trên 95% ( chương trình quốc tế về chất lượng nhôm oxit kỹ thuật nung ).



    Nhôm hydroxyt là sản phẩm trung gian để sản xuất nhôm oxit và nhôm sunfat. Nhôm hydroxyt thường được làm ra từ quặng boxit theo công nghệ Bayer với những bước cơ bản như sau:



    - đập vụn , sấy và nghiền mịn quặng



    - phối trộn với dung dịch NaOH đặc



    - hòa tách trong nồi hấp ở nhiệt độ và áp suất cao trong vài giờ



    - rửa tách bùn đỏ ( gồm các hợp chất sắt , titan , silic , ... )



    - lọc dung dịch aluminat , khuấy trộn dung dịch này vài ngày trong thiết bị phân giải , tách nhôm hydroxyt kết tủa.



    Sản phẩm nhôm hydroxyt dạng gel có xác xuất được xử lý nhiệt để tạo ra các sản phẩm Al 2 O 3 kỹ thuật tuỳ theo nhiệt độ xử lý.



    Ở nước ta chỉ có duy nhất nhà máy hóa chất Tân Bình tại đô thị Hồ Chí Minh có dây chuyền làm ra nhôm hydroxyt , với công suất yên ổn hiện tại là 11.000 tấn/năm. Nhà máy sử dụng quặng tinh từ khu mỏ Trại Mát , bảo Lộc. Nguyên liệu boxit này có nguyên lai bơsmit và hàm lượng Al 2 O 3 khá cao ( khoảng 47 % ) , tuy nhiên hàm lượng Fe 2 O 3 và SiO 2 cũng khá lớn , đặc biệt là Fe 2 O 3 . Ưu điểm của loại boxit này là ngậm nước nên mềm , dễ gia công. Công nghệ làm ra nhôm hydroxyt được áp dụng tại nhà máy Tân Bình là công nghệ Bayer.



    Sản phẩm nhôm hydroxyt của nhà máy hóa chất Tân Bình đạt chất lượng như sau:



    Al 2 O 3 : min. 63%



    Na 2 O : max. 0 , 2%



    Hàm ẩm : max. 13%



    Do những giữ lại như hàm ẩm , lượng kiềm dư cao , cỡ hạt thô , ... Cần phải sản phẩm nhôm hydroxyt của nhà máy Tân Bình chẳng thể dùng cho gốm kỹ thuật và nguyên liệu chịu lửa. Chất lượng nhôm hydroxyt của Tân Bình còn thấp hơn so với sản phẩm nhập từ Trung Quốc.



    Nhôm sunfat Al 2 ( SO 4 ) 3 ( phèn nhôm ) được sử dụng chủ yếu để xử lý nước tại các nhà máy nước hoặc các hộ Nhà ở. Nhôm sunfat thường được làm ra từ nhôm hydroxyt và axit sunfuric.



    bây giờ nhà máy hóa chất Tân Bình làm ra các sản phẩm nhôm sunfat cấp 15% Al 2 O 3 và 17% Al 2 O 3 , cũng như các sản phẩm nhôm kali sunfat và nhôm amoni sunfat.



    Những năm dĩ vãng , nhiều cơ sở sản xuất phèn ở phía Bắc như Phú Thọ , Đức Giang , Hải Dương đã dùng cao lanh để làm ra phèn nhôm ( bằng đặc tính với axit sunfuric ) dùng cho mục tiêu xử lý nước và phèn tinh luyện dùng trong làm ra giấy. Nhưng chất lượng sản phẩm phèn nhôm theo phương pháp làm ra này rất thấp vì lẫn nhiều tạp chất và dư axit. Đến nay , do có nguồn nhôm hydroxyt của nhà máy hóa chất Tân Bình nên phần nhiều các cơ sở trên đã dùng nhôm hydroxyt để làm ra phèn thay cho cao lanh , nhờ đó tăng chất lượng sản phẩm , giảm mất mát axit và giảm lượng bã thải.



    IV. TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG



    1. Nhu cầu thị tr ư ờng



    Nước ta nằm trong khu vực có nhu cầu nhập khẩu nhôm vào loại lớn nhất trên thế giới. Hàng năm các nước ASEAN , Nhật Bản , Hàn Quốc , Đài Loan phải nhập trên 4 triệu tấn nhôm , Trung Quốc và Nga nhập 3-4 triệu tấn alumin để điện phân nhôm. Với vịt địa lý thuận lợi và mối giao tiếp kinh tế truyền thống , đây là thịt thà khu vực tiềm ẩn cho các sản phẩm nhôm của nước ta.



    Nhu cầu về sản phẩm nhôm trong nước ta hiện tại cũng khá lớn , mỗi năm nước ta nhập khoảng 70.000 tấn nhôm kim khí. Dự báo nhu cầu nhôm trong những năm tới sẽ như sau:



    Dự báo nhu cầu nhôm đ ến 2015



    Chủng loại

    2005

    2010

    2015



    Nhôm thỏi

    60.000

    80.000

    100.000



    Nhôm hình

    39.000

    65.000

    80.000



    Nhôm tấm , lá

    29.500

    35.000

    40.000



    Các loại khác

    10.050

    15.000

    20.000



    cộng tất cả lại

    138.550

    195.000

    240.000











    Về nhôm oxyt , nhu cầu nước ta ngày nay như sau:



    lĩnh vực sử dụng Nhu cầu hiện tại ( tấn Al 2 O 3 /năm )



    vật liệu xây dựng 450 - 500



    vật liệu chịu lửa 1900 - 2300



    Thủy tinh 500



    Gốm sứ 150 - 200



    Tổng cộng 3000 - 3500 tấn



    Dự báo , sau năm 2005 chỉ riêng nhu cầu nhôm oxyt kỹ thuật dùng cho công nghiệp silicat ( bao gồm các ngành sao thủy , gốm sứ , gốm kỹ thuật , nguyên liệu chịu lửa ) sẽ tăng lên đến 15.000 - 20.000 tấn /năm. Ví như tính cả tới nhu cầu của các ngành khác , nhất là khi Việt Nam thực hiện chiến lược phát triển ngành Công lao luyện nhôm , thì triển vọng thịt thà của ngành làm ra và cung cấp nhôm oxit kỹ thuật trong mai sau là rất lớn.



    Nước ta cũng có nhu cầu lớn về sản phẩm phèn nhôm , ngoại giả phèn nhôm còn có xác xuất được xuất khẩu sang một số thanh thủy chuye. Năm 2001 , công ti Hóa chất căn bản Miền Nam đã xuất được 1500 tấn phèn nhôm.



    2. Tình hình ngành Công lao nhôm ở một số n ư ớc



    Những nước và lĩnh vực có nhiều quặng boxit là các nước Địa Trung Hải của châu Âu như Pháp , Italia , Nam Tư , Rumani , Hy Lạp , và một số nước châu Âu khác như Hungari , Nga , Cadăctan. Những mỏ boxit lớn nhất thế giới nằm ở các nước châu Mỹ như Hoa Kỳ , Guyana , Haiti , Giamaica. Các nước như ấn Độ , Trung Quốc , Auxtralia , Gana , Camơrun , Modămbich , Madagasca , Thổ Nhĩ Kỳ , Inđônexia , ... cũng có những mỏ boxit lớn.



    bây giờ , trên thế giới có khoảng 20 nước khai thác boxit , 25 nước sản xuất alumin và 40 nước làm ra nhôm bằng phương pháp điện phân. Năm 2000 , tổng sản lượng các sản phẩm đó trên toàn thế giới như sau:



    - boxit : 135 triệu tấn



    - alumin : 52 , 8 triệu tấn



    - nhôm : 24 , 4 triệu tấn

    Những nước sản xuất boxit , alumin và nhôm quy mô lớn trên thế giới bây giờ là ( sản lượng năm 2000 , triệu tấn ):



    Nước

    Boxit

    Alumin

    Nhôm



    Australia

    52 , 34

    15 , 681

    1 , 769



    Mỹ

    0

    4 , 786

    3 , 668



    Trung Quốc

    8 , 00

    4 , 330

    2 , 820



    Braxin

    13 , 84

    3 , 743

    1 , 271



    Jamaica

    11 , 30

    3 , 640

    0



    Nga

    4 , 0

    2 , 890

    3 , 274



    Ấn Độ

    6 , 67

    2 , 100

    0 , 665



    Surinam

    3 , 80

    1 , 900

    0



    Vênêzuêla

    4 , 70

    1 , 750

    0 , 571



    Ucraina

    0

    1 , 360

    0 , 104



    Canada

    0

    1 , 200

    2 , 373



    Cdăcxtan

    3 , 73

    1 , 200

    0



    Tây Ban Nha

    0

    1 , 100

    0 , 366



    Italia

    0

    1 , 023

    0 , 189



    Đức

    0

    1 , 000

    0 , 644







    Như vậy , Australia hiện đang đứng đầu thế giới về sản lượng boxit ( chiếm 40 % sản lượng thế giới ) và alumin ( chiếm 30% ) , đứng thứ năm thế giới về sản lượng nhôm.



    Những nước làm ra nhôm đi hàng đầu thế giới là Mỹ , Nga , Trung Quốc , Canađa , Braxin và Na Uy , với sản lượng nhôm đạt từ 1 đến trên 3 , 5 tỷ tấn.



    3. Tình hình khai thác quặng nhôm và sản xuất nhôm tại một số n ư ớc châu Á



    Ấn Đ ộ:



    Trữ lượng boxit của Ấn Độ là 2 , 7 tỷ tấn , phần lớn nằm ở bờ biển phía Đông.



    Nhu cầu về các sản phẩm nhôm của ấn Độ đang ngày càng tăng , một phần do khuynh hướng chuyển sang dùng các vật liệu nhôm thay cho các vật liệu gỗ để gác canh môi trường . Trước kia Ấn Độ phải nhập nhôm kim khí , nay đã tự đáp ứng được nhu cầu bằng sản xuất trong nước và đã xuất khẩu nhôm có lãi.



    Trung Quốc:



    Trung Quốc có tổng cộng khoảng 300 mỏ boxit , tập kết ở các tỉnh Shanxi , Guizhou và Henan , nhưng ngoài ra cũng còn có ở Hebei , Shandong và Sichuan. Phần lớn lượng boxit xuất cảng của Trung Quốc được khai khẩn tại Shanxi và Guizhou.



    Mỗi năm Trung Quốc làm ra khoảng 4 , 5 triệu tấn boxit ( kể cả đất sét chịu lửa ) , trong số đó khoảng 3 triệu tấn được cung cấp cho thịt nội địa , còn 1 , 2 đến 1 , 5 triệu tấn được xuất biên ra ngoại bang. Ngoài boxit khai thác cho công nghiệp luyện nhôm , Trung Quốc còn làm ra ba loại boxit phi luyện kim là : boxit làm nguyên liệu chịu lửa , boxit làm vật liệu mài và boxit làm vật liệu que hàn.



    Sản lượng boxit phi luyện kim của Trung Quốc đạt khoảng 3-3 , 6 triệu tấn , trong số đó gần một nửa được xuất cảng. Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu boxit dùng làm vật liệu chịu lửa. Bây giờ , chỉ riêng xuất cảng boxit loại này của Trung Quốc đã lên đến khoảng 1 triệu tấn / năm , chiếm 70 % thịt thế giới.



    Trước thập niên 1980 , xuất biên boxit của Trung Quốc còn ở mức rất khiêm tốn , cốt tử là xuất sang Nhật Bản. Sau khi tiến hành cách tân kinh tế và mở cửa ra thịt quốc tế , sản lượng boxit của Trung Quốc đã ngày càng tăng và cuốn hút sự để ý của các thịt thà nước ngoài. Từ đó đến nay , Trung Quốc đã chiếm lĩnh thịt boxit quốc tế và trở thành nhà cung ứng boxit quan trọng trên thế giới.



    V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ



    Nước ta có nguồn vật liệu chứa nhôm rất dồi dào , trữ lượng lớn , bởi thế quốc gia cần có một chiến lược phát triển ngành Công lao nhôm một cách tất cả. Cần Đa chủng hóa các sản phẩm chứa nhôm vì ngày nay ở nước ta chỉ có Nhà máy Hóa chất Tân Bình là làm ra nhôm hyđroxyt phục vụ người ốm cốt yếu cho làm ra phèn nhôm. Các sản phẩm nhôm khác rất cần cho các ngành công nghiệp khác nhau như: oxyt nhôm kỹ thuật dùng cho ngành vật liệu chịu nhiệt với nhu chuồng xí thụ hàng năm khá lớn , oxyt nhôm hoạt tính dùng ngành dầu khí , bột nhôm hoặc các sản phẩm chứa nhôm khác v.v... , nhưng trong nước chưa sản xuất được. Vì vậy triển vọng phát triển ngành công nghiệp nhôm là khá lớn , nhà nước nên xem xét để đầu tư một cách có công hiệu nhất.



    Do hoàn cảnh đặc điểm của nước ta ngày nay là nguồn điện còn hạn chế , giá điện cao , Công lao nhôm của nước ta nên đi theo hướng phát triển là khai khẩn boxit , làm ra alumin quy mô lớn để xuất cảng , tiến tới làm ra các hợp chất nhôm khác , đồng thời khi có hoàn cảnh về thủy điện thì dành một phần nguồn điện này để xây dựng các nhà máy điện phân nhôm nhằm đáp ứng một phần nhu cầu nhôm kim khí trong nước.



    đề án boxit Lâm Đồng đang được triển khai là hoàn cảnh tiện lợi quan trọng cho sự phát triển của ngành Công lao nhôm. Nhưng chúng tôi phải song song xây dựng cơ sở nội lực về khoa học công nghệ , xây dựng đội ngũ công nhân , cán bộ có đủ Thấp để có thể tiếp thu khoa học công nghệ mới , đáp ứng được các request đa dạng và nghiêm nhặt của quá trình đầu tư và sản xuất.



    chúng ta cũng cần khai khẩn tối đa và bổ khuyết các kết quả nghiên cứu dĩ vãng , để làm cơ sở cho giai đoạn Học hỏi tiếp theo một cách thực sự khách quan và chuẩn xác.



    Vấn đ ề khai khẩn tận thu các nguyên tố hiếm từ quặng boxit



    Theo số liệu phân tách , quặng boxit Việt Nam có hàm lượng gali làng nhàng là 38g , còn hàm lượng vanađi là 757 g V 2 O 5 / tấn tinh quặng.



    Trong làm ra alumin cũng như trong các đề án lớn về sản xuất-chế biến nhôm ở nước ta , hiện nay chưa đặt Sự tình khai khẩn tận thu các nguyên tố hiếm trên trong quặng boxit. Trong lúc đó , các cơ sở sản xuất tương tự ở nhiều nước khác đều có khâu khai thác các nguyên tố này. Việc thu hồi gali và vanađi trong quá trình sản xuất nhôm và các hợp chất của nó đã được nghiên cứu khai triển có kết quả ở nhiều nước. Trong hoàn cảnh ngày nay , việc triển khai công nghệ và kỹ thuật khai thác các nguyên tố hiếm từ quặng boxit là không có một sự hạn chế hay một trường hợp ngoại lệ nào cả khả thi. Quy trình công nghệ đã được hoàn thiện , thiết bị không quá phức tạp , nhưng ở Việt Nam chưa có cơ sở nào tiến hành Học hỏi thử nghiệm và khai triển. Giá của gali trên thịt thế giới là 1600 USD/kg , còn giá của V 2 O 5 là 4-6 USD/kg , nếu không tận dụng khai khẩn các nguyên tố hiếm này thì sẽ rất phí phạm. Do vậy quốc gia nên có đầu tư Học hỏi khai triển cho lĩnh vực này và cần tiến hành ngay để có khả năng đón đầu khi chúng tôi bắt đầu làm ra alumin và nhôm quy mô lớn.



    Việc tận thu các nguyên tố hiếm trong làm ra các hợp chất nhôm cố ý nghĩa lớn về nhiều mặt :



    - góp phần hạ giá thành sản phẩm chính



    - khai thác tiết kiệm và hợp lý tài nguyên thiên nhiên



    - thu được những sản phẩm đặc biệt quý hiếm sử dụng cho những ngành công nghệ cao như bán dẫn , điện tử , chế tạo hợp kim , xúc tác , ...



    - giảm lượng chất thải độc hại vào môi trường

    Có 0 người thích bài viết này:
    Có 0 người không thích bài viết này:

  3. #3
    Member
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    45
    Thanks
    0
    Được Thanks 0 lần trong 0 bài
    CHUYÊN SX CUNG CẤP SỈ LẺ NHÔM THANH KHUNG LỤA - RAY C BÀN IN CÁC LOẠI, PHỤ KIỆN BỌ NHÔM, SẮT. NHẬN GIA CÔNG NHÔM THEO KHUÂN MẪU



    LH 0937 655 551 - 0983 994 326



    WEDSITE THAM KHẢO: NHÔM KHUNG IN LỤA, RAY C BÀN IN CUNG CẤP SỈ LẺ











    ================================================== ================================================== ====

    Nhôm là gì?

    Nhôm là kim loại màu trắng bạc , mềm , nhẹ , độ phản chiếu cao , có tính dẫn nhiệt và dẫn điện cao , không độc , chống mài mòn. Nhôm là kim loại có nhiều thành phần nhất , chiếm 1/12 trong vỏ trái đất. Tuy nhiên , ta không tìm thấy nhôm tinh khiết trong tự nhiên , chỉ có xác xuất tìm thấy nhôm kết hợp với oxygen và những nguyên tố khác. Trong hoàn cảnh sống nhôm thường được gọi là hợp kim nhôm.

    Trong số các kim loại , nhôm vượt trội về thuộc tính cũng như hình thức và nhờ vào kỹ thuật sản xuất làm cho nhôm đắt giá cả cạnh tranh. Nhôm được sử dụng càng ngày càng nhiều trong nhiều ngành , những thị trường lớn như ngành Công lao ôtô bắt đầu nhận ra biến hóa chẳng thể so sánh được của nhôm.

    2.Tìm nhôm ở đâu và như thế nào?

    Quặng Bauxite là nguồn nhôm chủ yếu.

    Sau khi lọc , làm mát và kết tủa , hỗn hợp nhôm được lọc một lần nữa trước khi được nung thành bột. Sau thời gian ấy là quá trình gạn , nung và nấu thành thỏi nhôm thuần khiết .

    3 .Hợp kim

    Trong lò nấu hợp kim , nhôm thỏi được nấu chảy và trộn với kim loại khác như magnesium , silica , đồng… để tạo thành hợp kim nhôm được sử dụng rộng rãi. Thành phần vật lý của hợp kim nhôm này được quyết định bởi các kim khí bên trong nó. Chẳng hạn:

    - Hợp kim nhôm + Manganese chống mài mòn cao

    - hợp kim nhôm + Magnesium có tính hàn tốt

    - hợp kim nhôm + Đồng có tính gia công cao

    - hợp kim nhôm + Kẽm có độ bền cao

    4.Tính chất

    • Khối lượng riêng nhỏ (. 2 , 7g/cm³ ) nên nhôm và hợp kim nhôm chỉ nặng bằng 1/3 thép , đó là tính chất đặc biệt được chú trọng khi các thiết bị cần chế tác phải coi trọng đến trọng lượng ( trong ngành phưởng chức , vận tải... ).

    • Tính chống bào mòn trong khí quyển: Do phản ứng ôxy hoá của nó đã biến lớp bề mặt của nhôm thành ôxít nhôm ( Al2O3 ) rất xít chặt và chống ăn mòn cao trong khí quyển , do đó chúng có khả năng dùng trong đa ngành mà không cần sơn trông coi. Để tăng tính chống ăn mòn , người ta đã làm cho lớp ô xít nhôm bảo vệ dày thêm bằng cách anot hoá.

    • Tính dẫn điện: Tính dẫn điện của nhôm bằng 2/3 của đồng ( kim khí ) , nhưng do nhôm nhẹ hơn nên chúng được sử dụng nhiều hơn bởi nếu cùng truyền một dòng điện thì dây nhôm nhẹ hơn bằng 1/2; ít bị nung nóng hơn...

    • Tính dẻo: Rất dẻo , nên rất thuận lợi cho việc kéo thành dây , tấm , lá , băng , màng , ép chảy thành các thanh có biên dạng đặc biệt ( dùng cho khung cửa , các loại tản nhiệt...rất thuận tiện khi làm ra ).

    • Nhiệt độ nóng chảy: tự do tương đối thấp nên thuận tiện cho việc nấu chảy khi đúc , nhưng cũng làm nhôm và hợp kim nhôm không sử dụng được ở nhiệt độ cao hơn 300-400 độ C.

    • Độ bền , độ cứng: Thấp.

    5.Phân loại

    Hợp kim nhôm biến dạng

    Được chia làm hai loại là hợp kim nhôm biến dạng hoá bền được bằng nhiệt luyện và hợp kim nhôm biến dạng không hoá bền được bằng nhiệt luyện. Có một số áp dụng sau:

    • Nhôm thương phẩm ( >99 , 0% ):

    o Dùng trong công nghiệp hoá học , thực phẩm , đông lạnh , làm thùng chứa ( AA1060 )

    o Dùng làm dây cáp điện ( dây trần hoặc dây bọc ): AA1350

    Tạp chất có hại trong nhôm sạch bao gồm: Fe , Si tạo lên các pha giòn FeAl3

    • Hợp kim Al-Mn

    • Hợp kim Al-Mg

    Hợp kim nhôm đúc

    • Hợp kim Al-Si ( Silumin )

    • Hợp kim Al-Si-Mg( Cu )

    Là các loại hợp kim với khoảng Si rộng ( 5-20% ) và có thêm Mg ( 0 , 3-0 , 5% ) để tạo pha hoá bền Mg2Si nên các hệ Al-Si-Mg phải qua hoá bền.

    Cho thêm Cu ( 3-5% ) vào hệ Al-Si-Mg để cải thiện cơ tính và có tính đúc tốt do có các thành phần nông dân gần với cùng tin Al-Si-Cu nên được sử dụng trong đúc piston ( AA390.0 ) , nắp máy của động cơ đốt trong.

    hệ thống ký hiệu cho hợp kim nhôm

    Để ký hiệu các hợp kim nhôm người ta thường dùng theo hệ thống giao thông phân loại của Hoa Kỳ.

    Theo hệ thống giao thông phân loại này , các ký tự hàng đầu luôn là AA ( tiếng Anh: Aluminum Association )

    Các số sau thời gian ấy thường là: xxxxx đối với hợp kim nhôm biến dạng , và xxx.x đối với hợp kim nhôm cho loại đúc.

    Loại biến dạng

    • 1xxx: Nhôm sạch ( >99 , 0% )

    • 2xxx: Al-Cu , Al-Cu-Mg ,

    • 3xxx: Al-Mn

    • 4xxx: Al-Si

    • 5xxx: Al-Mg

    • 6xxx: Al-Mg-Si

    • 7xxx: Al-Zn-Mg , Al-Zn-Mg-Cu

    • 8xxx: Al-các hợp kim khác

    Đối với loại đúc:

    • 1xx.x: Nhôm sạch dạng thỏi hoặc dạng thương phẩm khác.

    • 2xx.x: Al-Cu

    • 3xx.x: Al-Si-Mg; Al-Si-Cu

    • 4xx.x: Al-Si

    • 5xx.x: Al-Mg

    • 7xx.x: Al-Zn

    • 8xx.x: Al-Sn

    ( Loại đúc không có 6xx.x )

    chương trình Việt Nam TCVN 1659-75 quy định ký hiệu hợp kim nhôm được bắt đầu bằng Al và tiếp theo lần lượt ký hiệu hoá học của nguyên tố hợp kim cùng chỉ số % của nó , nếu là hợp kim đúc thì sau rốt có chữ Đ ( Ví dụ: AlCu4Mg là hợp kim nhôm chứa 4% Cu , 1%Mg ). Với nhôm sạch ký hiệu bằng Al và chỉ số phần trăm của nó ( ví dụ: Al99; Al99 , 5 )

    hổ lốn kim khí nóng chảy ở 500- 600 độ C được đúc thành cây. Những cây này có khả năng được cắt thành từng khúc nhỏ theo ý muốn và chúng được đưa đến các nhà máy để định hình. Nhôm định hình được ứng dụng rông rãi trong đời sống của chúng tôi như cửa nhôm , khung nhôm , và các phân bố chịu lực khác có tính cảm biết cái đẹp cao.

    6. Tính ưu việt của nhôm : “Ăn rắn chắc , mặc bền “ .

    - Cách âm , cách nhiệt:

    Được làm từ profile nhôm cách nhiệt phối hợp với hộp kính , hệ gioăng chống lão hóa và hệ phụ kiện kim loại đồng bộ , cửa nhôm và vách nhôm kính lớn có tính cách âm , cách nhiệt cao.

    - Chịu lực tốt

    Profile nhôm có cầu cách nhiệt là loại vật liệu cao cấp dùng trong làm ra cửa sổ , cửa đi , vách kính lớn. Hệ có cấu tạo 3 lớp gồm 2 thanh nhôm định hình và cầu cách nhiệt bằng vật liệu polymer ở giữa. Thêm vào đó , các rãnh , vách kỹ thuật trong cấu trúc thanh nhôm được toan tính kỹ lưỡng để tạo sống gia cường , kênh thoát nước , khoang trống cách âm cách nhiệt. Với cấu tạo này , thanh profile nhôm có đem động vật âm , cách nhiệt cao và nổi bật hơn nhựa uPVC là tính chịu lực tốt.

    - thể hiện ở phân bố vững chắc của các thanh nhôm được làm ra theo thời hạn quốc tế , có thể chịu được mọi áp lực của gió , bão trên cấp 12. , không bị cong vênh , co ngót , oxi hoá và han gỉ theo thời gian , thích ứng với những điều kiện thời tiết không đơn giản ở Việt Nam

    - tải trọng nhẹ

    Do đặc trưng nhôm là nguyên liệu nhẹ , có độ bền cao , được thiết kế các khoang rỗng cùng với các sống gia cường hợp lý nên việc sử dụng vật liệu này sẽ giảm tải trọng của hết thảy công trình hơn hẳn so với vách tường sử dụng các loại nguyên liệu khác.

    - Kinh tế trong sử dụng

    Tại các tòa nhà cao tầng có nhiều diện tích vách tiếp kiến trực tiếp với ánh nắng kim ô. Chi phí điện năng cho hệ thống Hài hòa , thông gió nhằm yên ổn điều kiện không khí bên trong tòa nhà rất lớn. Sử dụng cửa nhôm hay vách nhôm kính lớn có cầu cách nhiệt với hộp kính cách âm , cách nhiệt làm từ các loại kính như kính phản quang , kính cản nhiệt , kính an toàn...... là giải pháp chính trong việc kiệm ước điện năng.

    Profile nhôm đã được xử lý bề mặt và sơn tĩnh điện với công nghệ tiên tiến nên có độ bền cao , luôn giữ được màu sắc và kiến trúc của cửa ngay trong cả hoàn cảnh thời tiết khắc nghiệt. Ngoại giả cửa nhôm hay vách nhôm kính lớn còn thuận lợi cho gia chủ khi sơn , sửa bởi chỉ lau chùi bình thường là sáng đẹp như mới mà không thèm phải tu bổ , bảo dưỡng định kỳ.

    - Tính cảm biết cái đẹp

    Cửa nhôm kính rộng , giàu có lịch sự , nối và mở rộng được hôn gian , tạo được tầm nhìn bao quát cho căn phòng.



    - Không cháy và không có khí độc : Nhôm không cháy , khi nóng chảy cũng không tạo ra khí độc như nhựa .

    bây giờ sự đa dạng trong thiết kế cửa nhôm và sự phát triển của công nghệ đã tạo cho người sử dụng nhiều áp dụng với cửa nhôm hơn .

    - bảo vệ môi trường

    Nhôm được tái sinh với chi phí ăn nhập. Nó có khả năng được tái sinh nhiều lần mà không làm mất phản ứng vì thế ăn nhập với sản phẩm gác canh môi trường

    7.Sơn và xi mạ màu

    - Hiệp hội các nhà làm ra nhôm trang hoàng Mỹ quy định độ dày lớp xi như sau:

    * Không xếp loại ( 0.1 đến 0.3 mili ) dùng trang hoàng trong nhà

    * Loại 2 ( 0.4 đến 0.7 mili ) dùng trang hoàng bên trong và bên ngoài nhà , thường chịu được các chất tẩy rửa

    * Loại 1 ( 0.7 đến 1.0 mili ) dùng trang trí bên ngoài nhà , đòi hỏi tính trông coi cao

    - Sơn nước và sơn tĩnh điện:

    Thành phẩm được sơn nước và sơn tĩnh điện để có bề ngoài đẹp và gác canh khỏi bi( ảnh hưởng của mưa acid , ô nhiễm sulfur , nhiễm muối và bị oxide hoá

    Có 2 loại dây chuyền sơn: sơn đứng và sơn nằm

    mặc dầu có sự khác nhau giữa sơn nước và sơn tĩnh điện , cả hai đều có chung công năng tạo bề mặt đẹp , gác canh khỏi tác hại của môi trường

    Cần kiểm tra ngoài mặt và thành phần của sản phẩm theo những Các quy định sau: độ cứng , độ dẻo , chống trầy xước , chống chất hoá học , chống mài mòn , không ghi bằng phấn , bền màu , độ bóng , chống tia tử ngoại và những biến hóa canh gác môi trường khác.

    Có 3 loại lớp phủ:

    AAMA 603: dùng cho cửa sổ , thời gian là 1 năm

    AAMA 605: dùng cho cửa kính , đòi hỏi thời gian lâu hơn , trên 5 năm

    ASCA 96: có vẻ ngoài đẹp và dùng trang trí đòi hỏi độ bền cao , thường trên 10 năm.

    ================================================== =================

    Nhôm là nguyên tố phổ thông thứ 3 ( sau ôxy và silic ) , và là kim khí phổ quát nhất trong vỏ quả đất. Đến ngày nay , nhôm được sử dụng dồi dào trong đời sống. Nhưng ít người biết rằng nhôm đã có một thời mắc hơn cả vàng bạc , là món đồ xa xỉ của bậc đế vương!



    khí dụng làm từ Nhôm

    Nhà viết sử cổ đại Plini Bố có thuật lại một sự kiện lý thú từng xảy ra gần hai mãi mãi về trước. Một hôm , một người lạ mặt đến gặp hoàng đế La Mã Tibêri. Người đó mang tặng hoàng đế một cái chén do chính mình sản xuất từ một thứ kim loại lấp lánh như bạc , nhưng lại rất nhẹ. Người thợ nói rằng , anh ta lấy được thứ kim loại mà chưa ai biết này từ đất sét. Có lẽ Tibêri ít khi bận tâm hàm ơn ai , và ông ta cũng là một hoàng đế không biết nhìn xa trông rộng. Sợ rằng , thứ kim loại mới với những thuộc tính tuyệt vời của nó sẽ làm mất hết giá trị của đống vàng và bạc đang lưu giữ trong kho , nên vị hoàng đế này đã ra lệnh chém đầu người phát minh và phá tan xưởng của anh ta để từ đấy về sau không còn ai dám làm ra thứ kim khí “nguy hiểm” ấy nữa.



    Đó là chuyện có thật hay chỉ là truyền thuyết - thật khó nói. Nhưng dẫu sao thì “nguy cơ” cũng đã qua khỏi , và tiếc thay , đã qua lâu lắm rồi. Mãi đến thế kỷ XVI , tức là khoảng một ngàn năm trăm năm về sau , lịch sử của nhôm mới được ghi thêm một trang mới. Vị y sự kiêm nhà vạn vật học đầy nhân kiệt người Đức là Philip Aureon Teofrat Bombat Fôn Hôhengây ( Philippus Aureolus Theophratus Bombastus Von Hohenheim ) - người đã đi vào lịch sử với biệt danh là Paratxen , đã làm được điều đó. Khi nghiên cứu các chất và các khoáng chất khác nhau trong đó có cả các loại phèn , nhà bác học này đã chính xác được rằng , chúng là “muối của một loại đất chứa phèn nào đó” mà thành phần của nó có chứa oxit của một kim khí chưa ai biết; thứ oxit này về sau được gọi là đất phèn.



    Từ thời xa xưa người ta đã biết đến các loại phèn mà Paratxen từng quan tâm. Theo công nhận của nhà viết sử người Hy Lạp là Hêrođot ( sống ở thế kỷ thứ V trước công nguyên ) thì các dân tộc cổ xưa đã dùng một loại chất khoáng mà họ gọi là “Alumen” , tức là “làm săn sợi” để giữ màu khi nhuộm vải. Chất khoáng này chính là phèn.



    Vào khoảng thế kỷ thứ VIII - IX , phèn đã được dùng để nhuộm vải , để thuộc da cừu , da dê ở nước Nga cổ xưa. Thời trung thế kỷ , một số xưởng sản xuất phèn đã hoạt động ở châu Âu.

    Năm 1754 , nhà hóa học người Đức là Anđrêat Xighizmunđơ Macgrap ( Andreas Sigismund Marggaf ) đã tách được thứ “đất chứa phèn” mà Paratxen đã nói đến từ hai trăm năm trước đó. Phải qua mấy chục năm nữa , nhà bác học người Anh là Hanfri Đêvi ( Humphry Davy ) mới thử tìm cách tách thứ kim loại ẩn náu trong phèn. Năm 1807 , bằng cách điện phân các chất kiềm , ông đã phát hiện ra natri và kali , nhưng ông chưa phân giải được đất phèn bằng dòng điện như thế. Mấy năm , nhà bác học người Thụy Điển là Iuên Iacop Becxêliut ( Jons Jakob Berxelius ) cũng bắt tay vào những cuộc thí nghiệm như vậy , song công cuộc của ông không thu được Cuối cùng. Mặc dù vậy , các nhà bác học vẫn quyết định đặt tên cho kim loại “bất trị” này: lúc đầu , Becxêliut gọi nó là alumium , và về sau , Đêvi đã đổi alumium thành aluminium ( nhôm ).



    Nhà bác học người Đan Mạch Hans Khrixtian Ecxtet ( Hans Christian Oersted ) là người hàng đầu chế được nhôm kim khí giống như người thợ vô danh thời cổ La Mã. Năm 1825 , trong một tạp chí hóa học , ông đã đăng một bài trong đó ông viết rằng , sau những thí nghiệm do ông tiến hành đã thu được “một mẩu kim loại có mầu và ánh kim hơi giống thiếc”. Nhưng tập san này không nức tiếng lắm nên báo cáo của Ecxtet hầu như không được giới khoa học chú ý đến. Vả lại , vì mải mê Học hỏi về điện tử nên chính nhà bác học đã không chú trọng phát minh này của mình.



    Hai năm sau , một nhà hóa học Đức trẻ tuổi nhưng đã nức tiếng , tên là Friđric Vuêle ( Friederich Wohler ) đã đến Côpenhaghen để gặp Ecxtet. Ecxtet cho Vuêle biết là ông không định tiếp tục các thí nghiệm phối chế nhôm nữa. Thế là sau khi phản hồi nước Đức , Vuêle đã lao ngay vào nghiên cứu Sự tình này - một Sự tình mà ông quan tâm từ lâu. Chỉ đến cuối năm 1827 , ông đã công bố biện pháp pha chế kim loại mới này của mình. Sự thực thì thủ pháp của Vuêle chỉ cho phép tách được nhôm ở dạng hạt có độ lớn không bằng đầu kim băng , nhưng nhà bác học đã tiếp làm thực nghiệm cho đến khi có đầy đủ tất cả các bộ phận cấu thành cần thiết các phương pháp pha chế nhôm ở dạng khối đặc. Ông phải mất ... mười tám năm vào việc đó.



    Thời lúc này , kim khí mới này đã có tên tuổi ngay. Nhưng vì người ta chỉ thu được nó với lượng rất ít ỏi nên giá của nó cao hơn giá vàng và tìm mua được nó không phải đơn giản.



    bởi thế , cũng rõ ràng rằng , khi một vị vua một nước ở châu Âu đã sắm riêng được cho mình một bộ hoàng bào đính cúc nhôm thì ông ta liền phách lối với các vua chúa khác mà món xa xỉ như vậy không hợp với túi tiền của họ. Các vua chúa kia chẳng còn cách nào khác ngoài ghen tức với người có diễm phúc được làm chủ bộ cúc quý hiếm đó và đành âm thầm buồn bã chờ đến một ngày tốt đẹp hơn.



    Chẳng phải đợi chờ lâu , niềm vui lớn đã đến với họ: năm 1855 , tại cuộc Cuộc trưng bày quốc tế ở Pari , người ta đã trưng bày "bạc lấy từ đất sét" làm kinh động dư luận. Đó là những tấm và thỏi nhôm do nhà bác học kiêm nhà công nghiệp người Pháp Hăngri Etien Xanh -Cle Đêvi ( Henri Etienne Sainte Claire Deville ) chế tạo ra.



    Trước khi Lộ rõ ra những vật chưng bày đó , một đôi sự kiện sau đây đã xảy ra. Hồi ấy , Napôleon III - “đứa cháu bé tí của ông bác vĩ đại” - như những người đương thời thường gọi , là hoàng đế nước Pháp. Vốn là một kẻ thích khêu gan người khác , có một lần , ông ta mở một bữa tiệc , tại đó , những người trong họ hàng nhà vua và những vị khách vinh diệu nhất được dùng thìa và dĩa bằng nhôm. Còn những khách khác thì buộc phải sử dụng những công cụ ăn uống thông thường ( song vẫn là những thứ dùng cho các bữa tiệc của hoàng đế ) bằng vàng và bạc. Dĩ nhiên là họ uất ức đến phát khóc lên và không tài nào nuốt nổi , nhưng biết làm sao được khi ngay cả hoàng đế lúc đó cũng chẳng thể sắm đủ cho mỗi vị khách một bộ đồ bằng nhôm theo đề nghị. Và khi mà số mệnh hạ tứ ông ta một vị con trai vua để nối dõi thì người cha đầy diễm phúc đã ra lệnh cho người thợ bạc trong cung đình làm một bộ đồ chơi xa xỉ bằng nhôm , vàng và các thứ đá quý.



    sau thời gian ấy ít lâu , trong óc của Napôleon III đã chín muồi một đề án trêu tức , hứa hẹn một niềm vẻ vang và hãnh diện , nhưng điều cốt yếu là làm cho các vua chúa khác phải xanh mắt vì ghen tị: hoàng đế đã quyết định trang bị cho binh lính trong quân đội của mình những bộ áo giáp bằng nhôm. Ông ta dành cho Xanh - Cle Đêvin một Bớt đi lớn để ông này tìm cách chế được nhôm với số lượng lớn. Lấy phương pháp của Vuêle làm cơ sở cho những thực nghiệm của mình , Xanh - Cle Đêvin đã đề ra một quy trình công nghệ thích hợp , nhưng kim loại của ông làm ra vẫn rất đắt. Chính vì vậy nên lính tráng Pháp vẫn chưa được ướm thử những bộ áo giáp như vua chúa đã hứa hẹn , trong khi đó thì nhà vua lại rất quan tâm đến việc hộ vệ bản thân mình: vệ sĩ của ông đã được trưng diện những bộ áo giáp mới tinh.



    phe cánh Bônapac định lợi dụng việc Xanh - Cle Đêvin pha chế được nhôm thuần chất để nhen nhóm lên ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa: ở khắp mọi nơi , ngươi ta kêu gào về chủ quyền của nước Pháp trong việc phát hiện ra kim khí này. Đáng kính thay Xanh - Cle Đêvin , ông đã La ó những lời “thổi phồng” này bằng một hành động phù hợp với một nhà bác học đích thực , đồng thời cũng rất độc đáo: ông đã dùng nhôm do chính mình sản xuất ra để khắc một tấm huy chương mang chân dung Friđric Vuêle , đề năm “1827” , rồi gửi tặng nhà bác học Đức.



    Chính ở thời kỳ lúa ra đòng này cũng đã hiện ra “bạc Đêvin” với nhân cách là vật chưng bày trong Cuộc trưng bày quốc tế. Có khả năng , những người tổ chức cuộc triển lãm đã liệt nhôm vào hàng những kim khí thông dụng , nhưng tiếc thay nó vẫn chưa đạt tới điều đó. Thật ra , ngay từ thời bấy chừ , những người tiên tiến đã hiểu được rằng , khuy áo và áo giáp chỉ là những tình tiết nhỏ mọn trong đời hoạt động của nhôm. Lần đi hàng đầu nhìn thấy những sản phẩm bằng nhôm , N. G. Checnưsepxki đã hào hứng thốt lên: “kim loại này nhất quyết sẽ có một tương lai to lớn. Hỡi các bạn , trước mắt các bạn là thứ kim loại của chủ nghĩa xã hội”. Trong tiểu thuyết “Làm gì” của ông xuất bản năm 1863 có những dòng như sau: “...Nghệ thuật cấu trúc của ngôi nhà bên trong này thanh thoát biết bao nhiêu , những bức tường giữa các cửa sổ gọn nhẹ mần răng. Các ô cửa sổ thì to lớn , rộng rãi , choán hết cả chiều cao tầng nhà... Còn sàn và trần nhà thì thế nào? Các cửa lớn và khung cửa sổ kia làm bằng gì? Đó là cái gì vậy? Bạc chăng? pla-tin ư?...Ô , bây giờ tôi mới biết , Xasa chỉ cho tôi một tấm bảng nhẹ như tấm kính , lại có cả hoa tai và trâm cài đầu như vậy nữa; phải , Xasa nói rằng , sớm hay muộn rồi nhôm cũng thay thế gỗ , và có thể còn thay thế cả đá nữa. Nhưng sao lại dồi dào thế. Nơi chốn nào cũng là nhôm... Và đây , trong phòng này nữa , một nửa sàn để ngỏ , và thế là rõ rồi , nó làm bằng nhôm...”



    Nhưng trong khi những dòng tiên tri này được Ghi chép thì nhôm cốt yếu vẫn là thứ kim loại trang sức như trước. Một điều thích là năm 1889 , khi Menđelêep ở Luân Đôn , để tỏ ý dận công lao xuất sắc của ông trong sự nghiệp phát triển ngành hóa học , người ta đã tặng ông một món quà quý: một chiếc cân làm bằng vàng và nhôm.

    Xanh - Cle Đêvin đã triển khai hoạt động Dữ dội. Tại thị trấn La Glaxie , ông đã xây dựng nhà máy luyện nhôm đầu tiên trên thế giới. Nhưng trong quá trình nấu luyện , nhà máy đã thải ra nhiều khí có hại , làm ô nhiễm bầu khí trời của La Glaxie. Những người dân Vùng đất vốn chú trọng sức khỏe của mình và không muốn hy sinh sức khỏe vì sự tiến bộ kỹ thuật nên đã khiếu nại lên chính phủ. Nhà máy đành phải chuyển đi nơi khác , lúc đầu , ra ngoại thành Pari , sau thời gian ấy đến miền nam nước Pháp.



    Song Đến kì hạn này , nhiều nhà bác học đã thấy rằng , mặc cho tất thảy các cố gắng của Xanh - Cle Đêvin , thủ pháp của ông cũng không có triển vọng. Các nhà hóa học ở các nước khác vẫn tiếp chuyện tìm tòi. Năm 1865 , nhà bác học Nga là N. N. Bekêtop đã đề xuất một phương pháp rất thú vị. Biện pháp này đã mau chóng được vận dụng tại các nhà máy luyện nhôm ở các nước Pháp và ở Đức.



    Năm 1886 đã trở nên một cái mốc quan trọng trong lịch sử của nhôm , khi mà nhà bác học Mỹ là Saclơ Martin Hôn ( Charles Martin Hall ) và nhà bác học Pháp là Pôn Lui Tuxtanh Eru ( Paul Louis Toussaint Heroult ) một cách Đứng riêng ra nhau đã hoàn thiện thủ pháp điện phân để làm ra kim loại này ( Trong lịch sử khoa học và kỹ thuật có không ít những trường hợp mà hai nhà bác học trong cùng một năm đã đi đến những kết luận hoặc những phát minh như nhau. Sự trùng nhau này càng “chống chất” thêm bởi cả Hôn và Eru đều sinh năm 1863 và như thể đã hẹn ước với nhau , cả hai nhà phát minh này đều mất năm 1914 ). Ý tưởng này không phải là mới: ngay từ năm 1854 , nhà bác học người Đức là Bunzen đã phát biểu ý nghĩ về việc phối chế nhôm bằng cách điện phân các muối của nó. Nhưng phải mất hơn ba mươi năm , ý định này mới được thực hiện. Do thủ pháp điện phân đòi hỏi nhiều năng lượng , nên nhà máy đầu tiên làm ra nhôm bằng thủ pháp này ở châu Âu đã được xây dựng ở Neyhazen ( Thụy Sĩ ) , gần thác nước sông Ranh - một nguồn điện rẻ tiền.



    ngày nay , sau hơn một trăm năm , chúng ta không thể hình dung được việc sản xuất nhôm mà không dùng thủ pháp điện phân. Chính điều đó đã giúp các nhà bác học phải vắt óc suy nghĩ về một sự thật đầy bí ẩn như sau. Ở Trung Quốc có ngôi mộ của đại đô đốc tên tuổi là chu du , chết hồi đầu thế kỷ thứ III. Cách đây không lâu , một số họa tiết trang trí ngôi mộ đã được phân tích bằng quang phổ. Kết quả thật bất thần đến nỗi phải phân tích đi phân tích lại Hai ba lần , và mỗi lần như vậy , vạch quang phổ không thiên vị ai đã chứng tỏ hùng hồn rằng , thứ hợp kim mà những người thợ xa xưa đã dùng làm họa tiết trang hoàng chứa tới 85% nhôm. Vậy bằng cách nào mà ngay từ thế kỷ thứ III người ta đã phối chế được kim loại này? Thời bấy giờ , con người biết đến điện họa chăng chỉ là qua sấm sét , mà chắc gì sấm sét thì chắc gì đã đồng ý tham gia vào quá trình điện phân. Thế tức là vẫn phải giả định rằng , từ thời xa xưa ấy đã có một thủ pháp khác gì đó để điều chế nhôm , nhưng tiếc thay đã bị thất truyền hàng bao thế kỷ.



    Cuối thế kỷ XIX , ngành làm ra nhôm đã trưởng thành vượt bực , Cuối cùng là giá kim lo?i này giảm xuống rõ rệt và nó không còn được coi là thứ kim loại quý nữa. Dĩ nhiên , đối với những người thợ kim hoàn thì chẳng có gì đáng quan tâm nữa , nhưng lập khắc nó thu được sự để ý của giới Công lao mà bấy chừ đang đứng ở ngưỡng cửa của những sự kiện lớn: ngành chế tạo máy bắt đầu phát triển Dữ dội , ngành công nghiệp ôtô đã đứng vững , ngành thủy lợi đang đi những bước hàng đầu mà trong đó nhôm đóng vai trò quan trọng nhất.

    ================================================== =============================

    Có 0 người thích bài viết này:
    Có 0 người không thích bài viết này:

  4. #4
    Member
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    45
    Thanks
    0
    Được Thanks 0 lần trong 0 bài
    CHUYÊN SX VÀ CUNG CẤP SỈ LẺ V NHÔM CÁC LOẠI, NHẬN GIA CÔNG THEO MẪU KHÔNG HẠN CHẾ SỐ LƯỢNG



    LH 0937 655 551 - 0983 994 326



    THAM KHẢO WEDSITE: SẢN XUẤT NHÔM V CÁC LOẠI, CUNG CẤP SỈ LẺ







    ================ ================================================== ================================================== ====

    Nhôm là gì?

    Nhôm là kim khí màu trắng bạc , mềm , nhẹ , độ phản chiếu cao , có tính dẫn nhiệt và dẫn điện cao , không độc , chống mài mòn. Nhôm là kim loại có nhiều thành phần nhất , chiếm 1/12 trong vỏ địa cầu. Tuy nhiên , ta không tìm thấy nhôm thuần khiết trong tự nhiên , chỉ có xác xuất tìm thấy nhôm kết hợp với oxygen và những nguyên tố khác. Trong hoàn cảnh sống nhôm thường được làm gọi là hợp kim nhôm.

    Trong số các kim khí , nhôm vượt trội về thuộc tính cũng như hình thức và nhờ vào kỹ thuật làm ra làm cho nhôm có giá cả tranh đua với nhau. Nhôm được sử dụng càng ngày càng nhiều trong nhiều ngành , những thị trường lớn như ngành Công lao ôtô bắt đầu nhận ra biến hóa chẳng thể so sánh được của nhôm.

    2.Tìm nhôm ở đâu và như thế nào?

    Quặng Bauxite là nguồn nhôm chủ yếu.

    Sau khi lọc , làm mát và kết tủa , hỗn tạp nhôm được lọc một lần nữa trước khi được nung thành bột. Sau đó là quá trình chắt , nung và nấu thành thỏi nhôm thuần khiết .

    3 .Hợp kim

    Trong lò nấu hợp kim , nhôm thỏi được nấu chảy và trộn với kim loại khác như magnesium , silica , đồng… để gây nên hợp kim nhôm được sử dụng rộng rãi. Thành phần vật lý của hợp kim nhôm này được quyết định bởi các kim loại bên trong nó. Chẳng hạn:

    - Hợp kim nhôm + Manganese chống mài mòn cao

    - hợp kim nhôm + Magnesium có tính hàn tốt

    - hợp kim nhôm + Đồng có tính gia công cao

    - hợp kim nhôm + Kẽm có độ bền cao

    4.Tính chất

    • Khối lượng riêng nhỏ (. 2 , 7g/cm³ ) nên nhôm và hợp kim nhôm chỉ nặng bằng 1/3 thép , đó là tính chất đặc biệt được chú trọng khi các thiết bị cần chế tạo phải coi trọng đến trọng lượng ( trong ngành v , vận tải... ).

    • Tính chống ăn mòn trong khí quyển: Do biến hóa ôxy hoá của nó đã biến lớp bề mặt của nhôm thành ôxít nhôm ( Al2O3 ) rất xít chặt và chống ăn mòn cao trong khí quyển , do đó chúng có xác xuất dùng trong đa ngành mà không thèm sơn canh giữ. Để tăng tính chống bào mòn , người ta đã làm cho lớp ô xít nhôm trông coi dày thêm bằng cách anot hoá.

    • Tính dẫn điện: Tính dẫn điện của nhôm bằng 2/3 của đồng ( kim loại ) , nhưng do nhôm nhẹ hơn nên chúng được sử dụng nhiều hơn bởi nếu cùng truyền một dòng điện thì dây nhôm nhẹ hơn bằng 1/2; ít bị nung nóng hơn...

    • Tính dẻo: Rất dẻo , nên rất thuận lợi cho việc kéo thành dây , tấm , lá , băng , màng , ép chảy thành các thanh có biên dạng đặc biệt ( dùng cho khung cửa , các loại tản nhiệt...rất thuận tiện khi làm ra ).

    • Nhiệt độ nóng chảy: tự do tương đối thấp nên thuận tiện cho việc nấu chảy khi đúc , nhưng cũng làm nhôm và hợp kim nhôm không sử dụng được ở nhiệt độ cao hơn 300-400 độ C.

    • Độ bền , độ cứng: Thấp.

    5.Phân loại

    Hợp kim nhôm biến dạng

    Được chia làm hai loại là hợp kim nhôm biến dạng hoá bền được bằng nhiệt luyện và hợp kim nhôm biến dạng không hoá bền được bằng nhiệt luyện. Có một số vận dụng sau:

    • Nhôm thương phẩm ( >99 , 0% ):

    o Dùng trong công nghiệp hoá học , thực phẩm , đông lạnh , làm thùng chứa ( AA1060 )

    o Dùng làm dây cáp điện ( dây trần hoặc dây bọc ): AA1350

    Tạp chất có hại trong nhôm sạch bao gồm: Fe , Si tạo lên các pha giòn FeAl3

    • Hợp kim Al-Mn

    • Hợp kim Al-Mg

    Hợp kim nhôm đúc

    • Hợp kim Al-Si ( Silumin )

    • Hợp kim Al-Si-Mg( Cu )

    Là các loại hợp kim với khoảng Si rộng ( 5-20% ) và có thêm Mg ( 0 , 3-0 , 5% ) để tạo pha hoá bền Mg2Si nên các hệ Al-Si-Mg phải qua hoá bền.

    Cho thêm Cu ( 3-5% ) vào hệ Al-Si-Mg để cải thiện cơ tính và có tính đúc tốt do có các thành phần gần với cùng tin Al-Si-Cu nên được sử dụng trong đúc piston ( AA390.0 ) , nắp máy của động cơ đốt trong.

    hệ thống ký hiệu cho hợp kim nhôm

    Để ký hiệu các hợp kim nhôm người ta thường dùng theo hệ thống phân loại của Hoa Kỳ.

    Theo hệ thống phân loại này , các ký tự đi hàng đầu luôn là AA ( tiếng Anh: Aluminum Association )

    Các số sau đó thường là: xxxxx đối với hợp kim nhôm biến dạng , và xxx.x đối với hợp kim nhôm cho loại đúc.

    Loại biến dạng

    • 1xxx: Nhôm sạch ( >99 , 0% )

    • 2xxx: Al-Cu , Al-Cu-Mg ,

    • 3xxx: Al-Mn

    • 4xxx: Al-Si

    • 5xxx: Al-Mg

    • 6xxx: Al-Mg-Si

    • 7xxx: Al-Zn-Mg , Al-Zn-Mg-Cu

    • 8xxx: Al-các hợp kim khác

    Đối với loại đúc:

    • 1xx.x: Nhôm sạch dạng thỏi hoặc dạng thương phẩm khác.

    • 2xx.x: Al-Cu

    • 3xx.x: Al-Si-Mg; Al-Si-Cu

    • 4xx.x: Al-Si

    • 5xx.x: Al-Mg

    • 7xx.x: Al-Zn

    • 8xx.x: Al-Sn

    ( Loại đúc không có 6xx.x )

    Các quy định Việt Nam TCVN 1659-75 quy định ký hiệu hợp kim nhôm được bắt đầu bằng Al và tiếp theo lần lượt ký hiệu hoá học của nguyên tố hợp kim cùng chỉ số % của nó , nếu là hợp kim đúc thì sau rốt có chữ Đ ( Ví dụ: AlCu4Mg là hợp kim nhôm chứa 4% Cu , 1%Mg ). Với nhôm sạch ký hiệu bằng Al và chỉ số phần trăm của nó ( ví dụ: Al99; Al99 , 5 )

    hỗn tạp kim khí nóng chảy ở 500- 600 độ C được đúc thành cây. Những cây này có xác xuất được cắt thành từng khúc nhỏ theo ý muốn và chúng được đưa đến các nhà máy để định hình. Nhôm định ảnh được ứng dụng rông rãi trong hoàn cảnh sống của chúng tôi như cửa nhôm , khung nhôm , và các kết cấu chịu lực khác có tính thẩm mỹ cao.

    6. Tính ưu việt của nhôm : “Ăn rắn chắc , mặc bền “ .

    - Cách âm , cách nhiệt:

    Được làm từ profile nhôm cách nhiệt kết hợp với hộp kính , hệ gioăng chống lão hóa và hệ phụ kiện kim khí đồng bộ , cửa nhôm và vách nhôm kính lớn có tình cảm âm , cách nhiệt cao.

    - Chịu lực tốt

    Profile nhôm có cầu cách nhiệt là loại vật liệu cao cấp dùng trong sản xuất cửa sổ , cửa đi , vách kính lớn. Hệ có cấu tạo 3 lớp gồm 2 thanh nhôm định ảnh và cầu cách nhiệt bằng vật liệu polymer ở giữa. Thêm vào đó , các rãnh , vách kỹ thuật trong cấu trúc thanh nhôm được toan tính kỹ lưỡng để tạo sống gia cố , kênh thoát nước , khoang trống cách âm cách nhiệt. Với cấu tạo này , thanh profile nhôm có tính cách âm , cách nhiệt cao và nổi hơn nhựa uPVC là tính chịu lực tốt.

    - biểu hiện ở thành phần kiên cố của các thanh nhôm được sản xuất theo thời hạn quốc tế , có xác xuất chịu được mọi sức ép của gió , bão trên cấp 12. , không bị cong vênh , co ngót , oxi hoá và han gỉ theo thời gian , thích nghi với những điều kiện thời tiết Rắc rối ở Việt Nam

    - trọng tải nhẹ

    Do đặc trưng nhôm là vật liệu nhẹ , có độ bền cao , được thiết kế các khoang rỗng cùng với các sống gia cường hợp lý nên việc sử dụng vật liệu này sẽ giảm tải trọng của hết thảy công trình hơn hẳn so với vách tường sử dụng các loại vật liệu khác.

    - Kinh tế trong sử dụng

    Tại các tòa nhà cao tầng có nhiều diện tích vách tiếp kiến trực tiếp với ánh nắng aìc vàng. Chi phí điện lực cho hệ thống điều hòa , thông gió nhằm ổn định hoàn cảnh không khí bên trong tòa nhà rất lớn. Sử dụng cửa nhôm hay vách nhôm kính lớn có cầu cách nhiệt với hộp kính cách âm , cách nhiệt làm từ các loại kính như kính phản quang , kính cản nhiệt , kính an toàn...... là giải pháp chính trong việc kiệm ước điện năng.

    Profile nhôm đã được xử lý bề mặt và sơn tĩnh điện với công nghệ tiền tiến nên có độ bền cao , luôn giữ được màu sắc và cấu trúc của cửa ngay trong cả hoàn cảnh thời tiết hà khắc. Ngoại giả cửa nhôm hay vách nhôm kính lớn còn thuận tiện cho người chủ nhà khi sơn , sửa bởi chỉ lau chùi thông thường là sáng đẹp như mới mà không thèm phải tu sửa , bảo dưỡng định kỳ.

    - Tính cảm biết cái đẹp

    Cửa nhôm kính rộng , sang trọng , nối và mở mang được không gian , tạo được tầm nhìn Bao gồm cho căn phòng.



    - Không cháy và không có khí độc : Nhôm không cháy , khi nóng chảy cũng không tạo ra khí độc như nhựa .

    hiện nay sự đa dạng trong thiết kế cửa nhôm và sự phát triển của công nghệ đã tạo cho người sử dụng nhiều áp dụng với cửa nhôm hơn .

    - bảo vệ môi trường

    Nhôm được tái sinh với phí tổn phù hợp. Nó có thể được tái sinh nhiều lần mà không làm mất biến hóa vì vậy ăn nhập với sản phẩm trông coi môi trường

    7.Sơn và xi mạ màu

    - Hiệp hội các nhà làm ra nhôm trang hoàng Mỹ quy định độ dày lớp xi như sau:

    * Không xếp loại ( 0.1 đến 0.3 mili ) dùng trang trí trong nhà

    * Loại 2 ( 0.4 đến 0.7 mili ) dùng trang trí bên trong và bên ngoài nhà , thường chịu được các chất tẩy rửa

    * Loại 1 ( 0.7 đến 1.0 mili ) dùng trang trí bên ngoài nhà , đòi hỏi tính gác canh cao

    - Sơn nước và sơn tĩnh điện:

    Thành phẩm được sơn nước và sơn tĩnh điện để có bề ngoài đẹp và canh giữ khỏi bi( có tác động đến một điều gì đó của mưa acid , môi trường ô nhiễm sulfur , nhiễm muối và bị oxide hoá

    Có 2 loại dây chuyền sơn: sơn đứng và sơn nằm

    mặc dầu có sự khác nhau giữa sơn nước và sơn tĩnh điện , cả hai đều có chung công năng tạo bề mặt đẹp , canh giữ khỏi tác hại của môi trường

    Cần thẩm tra ngoài mặt và thành phần của sản phẩm theo những chương trình sau: độ cứng , độ dẻo , chống trầy xước , chống chất hoá học , chống mài mòn , không ghi bằng phấn , bền màu , độ bóng , chống tia tử ngoại và những phản ứng canh giữ môi trường khác.

    Có 3 loại lớp phủ:

    AAMA 603: dùng cho cửa sổ , thời kì là 1 năm

    AAMA 605: dùng cho cửa kính , đòi hỏi thời gian lâu hơn , trên 5 năm

    ASCA 96: có vẻ ngoài đẹp và dùng trang hoàng đòi hỏi độ bền cao , thường trên 10 năm.

    ================================================== =================

    Nhôm là nguyên tố phổ biến thứ 3 ( sau ôxy và silic ) , và là kim khí phổ biến nhất trong vỏ trái đất. Đến hiện tại , nhôm được sử dụng dồi dào trong Chỗ ở. Nhưng ít người biết rằng nhôm đã có một thời mắc hơn cả vàng bạc , là món đồ xa xỉ của bậc đế vương!



    đồ dùng làm từ Nhôm

    Nhà viết sử cổ đại Plini Bố có kể lại một sự kiện lý thú từng xảy ra gần hai ngàn năm về trước. Một hôm , một người lạ đến gặp hoàng đế La Mã Tibêri. Địa ngục đó mang tặng hoàng đế một cái chén do chính mình sản xuất từ một thứ kim loại lóng lánh như bạc , nhưng lại rất nhẹ. Người thợ nói rằng , anh ta lấy được thứ kim khí mà chưa ai biết này từ đất sét. Dễ thường Tibêri ít khi nhọc lòng biết ơn ai , và ông ta cũng là một hoàng đế thiển cận. Sợ rằng , thứ kim loại mới với những tính chất tuyệt vời của nó sẽ làm mất hết giá trị của đống vàng và bạc đang cất giữ trong kho , nên vị hoàng đế này đã ra lệnh chém đầu người phát minh và phá tan xưởng của anh ta để từ đấy về sau không còn ai dám sản xuất thứ kim khí “nguy hiểm” ấy nữa.



    Đó là chuyện có thật hay chỉ là truyền thuyết - thật khó dạy. Nhưng dẫu sao thì “nguy cơ” cũng đã qua khỏi , và tiếc thay , đã qua lâu lắm rồi. Mãi đến thế kỷ XVI , tức thị khoảng một ngàn năm trăm năm về sau , lịch sử của nhôm mới được ghi thêm một trang mới. Vị y sự kiêm nhà vạn vật học đầy hào kiệt người Đức là Philip Aureon Teofrat Bombat Fôn Hôhengây ( Philippus Aureolus Theophratus Bombastus Von Hohenheim ) - người đã đi vào lịch sử với biệt danh là Paratxen , đã làm được điều đó. Khi nghiên cứu các chất và các khoáng chất khác nhau trong đó có cả các loại phèn , nhà bác học này đã xác định được rằng , chúng là “muối của một loại đất chứa phèn nào đó” mà thành phần của nó có chứa oxit của một kim loại chưa ai biết; thứ oxit này về sau được làm gọi là đất phèn.



    Từ thời xa xưa người ta đã biết đến các loại phèn mà Paratxen từng quan tâm. Theo công nhận của nhà viết sử người Hy Lạp là Hêrođot ( sống ở thế kỷ thứ V trước công nguyên ) thì các dân tộc cổ xưa đã dùng một loại chất khoáng mà họ làm gọi là “Alumen” , nghĩa là “làm săn sợi” để giữ màu khi nhuộm vải. Chất khoáng này Ấy là phèn.



    Vào khoảng thế kỷ thứ VIII - IX , phèn đã được dùng để nhuộm vải , để thuộc da cừu , da dê ở nước Nga xa xưa. Thời trung thế kỷ , một số xưởng sản xuất phèn đã hoạt động ở châu Âu.

    Năm 1754 , nhà hóa học người Đức là Anđrêat Xighizmunđơ Macgrap ( Andreas Sigismund Marggaf ) đã tách được thứ “đất chứa phèn” mà Paratxen đã nói đến từ hai trăm năm trước đó. Phải qua mấy chục năm nữa , nhà bác học người Anh là Hanfri Đêvi ( Humphry Davy ) mới thử tìm cách tách thứ kim loại ẩn núp trong phèn. Năm 1807 , bằng cách điện phân các chất kiềm , ông đã phát hiện ra natri và kali , nhưng ông chưa phân giải được đất phèn bằng dòng điện như thế. Mấy năm , nhà bác học người Thụy Điển là Iuên Iacop Becxêliut ( Jons Jakob Berxelius ) cũng bắt tay vào những cuộc thử nghiệm như vậy , song công cuộc của ông không thu được kết quả. Mặc dù vậy , các nhà bác học vẫn quyết định đặt tên cho kim khí “bất trị” này: lúc đầu , Becxêliut gọi nó là alumium , và về sau , Đêvi đã đổi alumium thành aluminium ( nhôm ).



    Nhà bác học người Đan Mạch Hans Khrixtian Ecxtet ( Hans Christian Oersted ) là người hàng đầu chế được nhôm kim loại giống như người thợ vô danh thời cổ La Mã. Năm 1825 , trong một tạp chí hóa học , ông đã đăng một bài trong đó ông viết rằng , sau những thí nghiệm do ông tiến hành đã thu được “một mẩu kim khí có mầu và ánh kim giông giống thiếc”. Nhưng tập san này không nổi tiếng lắm nên thông tin của Ecxtet Đại khái không được giới khoa học Đoái đến. Vả lại , vì miệt mài Học hỏi về điện tử nên chính nhà bác học đã không coi trọng phát minh này của mình.



    Hai năm sau , một nhà hóa học Đức trẻ tuổi nhưng đã nức tiếng , tên là Friđric Vuêle ( Friederich Wohler ) đã đến Côpenhaghen để gặp Ecxtet. Ecxtet cho Vuêle biết là ông không định tiếp chuyện các thí nghiệm điều chế nhôm nữa. Thế là sau khi phản hồi nước Đức , Vuêle đã lao ngay vào nghiên cứu Sự tình này - một vấn đề mà ông quan tâm từ lâu. Chỉ đến cuối năm 1827 , ông đã công báo biện pháp điều chế kim khí mới này của mình. Sự thật thì biện pháp của Vuêle chỉ cho phép tách được nhôm ở dạng hạt có độ lớn không bằng đầu kim băng , nhưng nhà bác học đã tiếp tục làm thực nghiệm cho đến khi hoàn chỉnh các thủ pháp pha chế nhôm ở dạng khối đặc. Ông phải mất ... mười tám năm vào việc đó.



    Thời lúc này , kim loại mới này đã có tên tuổi ngay. Nhưng vì người ta chỉ thu được nó với lượng rất nhỏ nhoi nên giá của nó cao hơn giá vàng và tìm mua được nó không phải đơn giản.



    bởi vậy , cũng sáng sủa rằng , khi một vị vua một nước ở châu Âu đã sắm riêng được cho mình một bộ hoàng bào đính cúc nhôm thì ông ta liền phách lối với các vua chúa khác mà món xa xỉ như vậy không hợp với túi tiền tài họ. Các vua chúa kia chẳng còn cách nào khác ngoài ghen tức với người có diễm phúc được làm chủ bộ cúc quý hiếm đó và đành âm thầm buồn bã chờ đến một ngày tốt đẹp hơn.



    Chẳng phải đợi chờ lâu , niềm vui lớn đã đến với họ: năm 1855 , tại cuộc Cuộc trưng bày quốc tế ở Pari , người ta đã chưng bày "bạc lấy từ đất sét" làm kinh động dư luận. Đó là những tấm và thỏi nhôm do nhà bác học kiêm nhà công nghiệp người Pháp Hăngri Etien Xanh -Cle Đêvi ( Henri Etienne Sainte Claire Deville ) chế tác ra.



    Trước khi Lộ rõ ra những vật chưng bày đó , một vài sự kiện sau đây đã xảy ra. Gồm Hán ấy , Napôleon III - “đứa cháu bé tí của ông bác vĩ đại” - như những người đương thời thường gọi , là hoàng đế nước Pháp. Vốn là một kẻ thích khêu gan người khác , có một lần , ông ta mở một bữa tiệc , tại đó , những người trong họ hàng nhà vua và những vị khách vinh diệu nhất được dùng thìa và dĩa bằng nhôm. Còn những khách khác thì buộc phải sử dụng những dụng cụ ẩm thực thông thường ( song vẫn là những thứ dùng cho các bữa tiệc của hoàng đế ) bằng vàng và bạc. Tất nhiên là họ uất ức đến phát khóc lên và không tài nào nuốt nổi , nhưng biết mần răng được khi ngay cả hoàng đế lúc đó cũng chẳng thể sắm đủ cho mỗi vị khách một bộ đồ bằng nhôm theo yêu cầu. Và khi mà số phận ban xuống ông ta một vị hoàng tử để nối dõi thì người cha đầy diễm phúc đã ra lệnh cho người thợ bạc trong cung đình làm một bộ đồ chơi xa xỉ bằng nhôm , vàng và các thứ đá quý.



    sau thời gian ấy ít lâu , trong óc của Napôleon III đã chín muồi một đề án chọc tức , hứa hẹn một niềm vinh quang và hãnh diện , nhưng điều chính yếu là làm cho các vua chúa khác phải xanh mắt vì ghen tị: hoàng đế đã quyết định trang bị cho lính tráng trong quân đội của mình những bộ áo giáp bằng nhôm. Ông ta dành cho Xanh - Cle Đêvin một khoản tiền lớn để ông này tìm cách chế được nhôm với số lượng lớn. Lấy phương pháp của Vuêle làm cơ sở cho những thực nghiệm của mình , Xanh - Cle Đêvin đã đề ra một quy trình công nghệ thích hợp , nhưng kim loại của ông sản xuất vẫn rất đắt. Chính bởi vậy nên binh lính Pháp vẫn chưa được ướm thử những bộ áo giáp như vua chúa đã hứa hẹn , trong lúc đó thì nhà vua lại rất quan tâm đến việc hộ vệ bản thân mình: vệ sĩ của ông đã được trưng diện những bộ áo giáp mới tinh.



    phe cánh Bônapac định lợi dụng việc Xanh - Cle Đêvin điều chế được nhôm thuần chất để nhen nhúm lên ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa: ở khắp mọi nơi , ngươi ta kêu gào về chủ quyền của nước Pháp trong việc phát xuất hiện kim loại này. Đáng kính thay Xanh - Cle Đêvin , ông đã La ó những lời “thổi phồng” này bằng một hành động phù hợp với một nhà bác học đích thực , đồng thời cũng rất độc đáo: ông đã dùng nhôm do chính mình làm ra ra để khắc một tấm huy chương mang chân dung Friđric Vuêle , đề năm “1827” , rồi gửi tặng nhà bác học Đức.



    Chính ở thời kỳ này cũng đã hiện ra “bạc Đêvin” với tư cách là vật chưng bày trong Cuộc trưng bày quốc tế. Có khả năng , những người tổ chức cuộc triển lãm đã liệt nhôm vào hàng những kim khí thông dụng , nhưng tiếc thay nó vẫn chưa đạt tới điều đó. Thật ra , ngay từ thời lúc này , những người tiền tiến đã hiểu được rằng , khuy áo và áo giáp chỉ là những tình tiết nhỏ nhoi trong đời hoạt động của nhôm. Lần hàng đầu nhìn thấy những sản phẩm bằng nhôm , N. G. Checnưsepxki đã hào hứng thốt lên: “kim loại này nhất định sẽ có một tương lai to lớn. Hỡi các bạn , trước mắt các bạn là thứ kim khí của chủ nghĩa xã hội”. Trong tiểu thuyết “Làm gì” của ông xuất bản năm 1863 có những dòng như sau: “...Nghệ thuật kiến trúc của ngôi nhà bên trong này thanh tú xiết bao , những bức tường giữa các cửa sổ gọn nhẹ mần răng. Các ô cửa sổ thì to lớn , thông đạt các ngả , choán hết cả chiều cao tầng nhà... Còn sàn và trần nhà thì thế nào? Các cửa lớn và khung cửa sổ kia làm bằng gì? Đó là cái gì vậy? Bạc chăng? pla-tin ư?...Ô , bây giờ tôi mới biết , Xasa chỉ cho tôi một tấm bảng nhẹ như tấm kính , lại có cả hoa tai và trâm cài đầu như vậy nữa; phải , Xasa nói rằng , sớm hay muộn rồi nhôm cũng thay thế gỗ , và có xác xuất còn thay thế cả đá nữa. Nhưng sao lại rất nhiều thế. Chỗ nào cũng là nhôm... Và đây , trong phòng này nữa , một nửa sàn để ngỏ , và thế là rõ rồi , nó làm bằng nhôm...”



    Nhưng trong khi những dòng tiên tri này được viết ra thì nhôm chính yếu vẫn là thứ kim khí Trang điểm như trước. Một điều thú nhận là năm 1889 , khi Menđelêep ở Luân Đôn , để tỏ ý dận công phu xuất sắc của ông trong sự nghiệp phát triển ngành hóa học , người ta đã tặng ông một món quà quý: một chiếc cân làm bằng vàng và nhôm.

    Xanh - Cle Đêvin đã khai triển hoạt động mạnh mẽ. Tại thị trấn La Glaxie , ông đã xây dựng nhà máy luyện nhôm đi hàng đầu trên thế giới. Nhưng trong quá trình nấu luyện , nhà máy đã thải ra nhiều khí có hại , làm ô nhiễm bầu không khí của La Glaxie. Những người dân xứ sở vốn coi trọng sức khỏe của mình và không muốn hy sinh sức khỏe vì sự phát triển theo hướng đi lên kỹ thuật nên đã khiếu nại lên chính phủ. Nhà máy đành phải chuyển đi nơi khác , lúc đầu , ra ngoại ô Pari , sau đó đến miền nam nước Pháp.



    Song Đến kì hạn này , nhiều nhà bác học đã thấy rằng , mặc cho tất cả các gắng gổ của Xanh - Cle Đêvin , biện pháp của ông cũng không có triển vọng. Các nhà hóa học ở các nước khác vẫn nối tìm tòi. Năm 1865 , nhà bác học Nga là N. N. Bekêtop đã đề xuất một phương pháp rất thú. Thủ pháp này đã nhanh chóng được vận dụng tại các nhà máy luyện nhôm ở các nước Pháp và ở Đức.



    Năm 1886 đã trở nên một cái mốc quan trọng trong lịch sử của nhôm , khi mà nhà bác học Mỹ là Saclơ Martin Hôn ( Charles Martin Hall ) và nhà bác học Pháp là Pôn Lui Tuxtanh Eru ( Paul Louis Toussaint Heroult ) một cách độc lập nhau đã hoàn thiện thủ pháp điện phân để sản xuất kim loại này ( Trong lịch sử khoa học và kỹ thuật có không ít những trường hợp mà hai nhà bác học trong cùng một năm đã đi đến những kết luận hoặc những phát minh như nhau. Sự trùng nhau này càng “chống chất” thêm bởi cả Hôn và Eru đều sinh năm 1863 và như thể đã hẹn ước với nhau , cả hai nhà phát minh này đều mất năm 1914 ). Ý tưởng này không phải là mới: ngay từ năm 1854 , nhà bác học người Đức là Bunzen đã phát biểu ý nghĩ về việc pha chế nhôm bằng cách điện phân các muối của nó. Nhưng phải mất hơn ba mươi năm , ý định này mới được thực hiện. Do thủ pháp điện phân đòi hỏi nhiều năng lượng , nên nhà máy đầu tiên làm ra nhôm bằng phương pháp này ở châu Âu đã được xây dựng ở Neyhazen ( Thụy Sĩ ) , gần thác nước sông Ranh - một nguồn điện rẻ tiền.



    ngày nay , sau hơn một trăm năm , chúng ta không thể hình dung được việc sản xuất nhôm mà không dùng phương pháp điện phân. Chính điều đó đã giúp các nhà bác học phải vắt óc suy nghĩ về một việc có xảy ra đầy bí ẩn như sau. Ở Trung Quốc có ngôi mộ của đại đô đốc danh tiếng là chu du , chết hồi đầu thế kỷ thứ III. Cách đây không lâu , một số họa tiết trang trí ngôi mộ đã được phân tách bằng quang phổ. Kết quả thật bất ngờ đến nỗi phải phân tách đi phân tích lại Hai ba lần , và mỗi lần như vậy , vạch kính quang phổ không thiên vị ai đã chứng tỏ hùng hồn rằng , thứ hợp kim mà những người thợ cổ xưa đã dùng làm họa tiết trang trí chứa tới 85% nhôm. Vậy bằng cách nào mà ngay từ thế kỷ thứ III người ta đã pha chế được kim khí này? Thời bấy giờ , con người biết đến điện họa chăng chỉ là qua sấm sét , mà chắc gì sấm sét thì chắc gì đã cùng quan điểm hoặc suy nghĩ với ai đó tham dự vào quá trình điện phân. Thế tức thị vẫn phải giả thiết rằng , từ thời xa xưa ấy đã có một biện pháp khác nào đó để phối chế nhôm , nhưng tiếc thay đã bị thất truyền hàng bao thế kỷ.



    Cuối thế kỷ XIX , ngành làm ra nhôm đã trưởng thành vượt bực , kết quả là giá kim lo?i này giảm xuống rõ rệt và nó không còn được coi là thứ kim loại quý nữa. Dĩ nhiên , đối với những người thợ kim hoàn thì chẳng có gì đáng quan hoài nữa , nhưng lập khắc nó thu được sự để ý của giới Công lao mà bấy giờ đang đứng ở ngưỡng cửa của những sự kiện lớn: ngành chế tác máy bắt đầu phát triển Dữ dội , ngành Công lao ôtô đã đứng vững , ngành quáng dã đang đi những bước hàng đầu mà trong đó nhôm đóng vai trò quan trọng nhất.

    Có 0 người thích bài viết này:
    Có 0 người không thích bài viết này:

  5. #5
    Member
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    45
    Thanks
    0
    Được Thanks 0 lần trong 0 bài
    CHUYÊN SX CUNG CẤP SỈ LẺ NHÔM THANH KHUNG LỤA - RAY C BÀN IN CÁC LOẠI, PHỤ KIỆN BỌ NHÔM, SẮT. NHẬN GIA CÔNG NHÔM THEO KHUÂN MẪU



    LH 0937 655 551 - 0983 994 326



    WEDSITE THAM KHẢO: NHÔM KHUNG IN LỤA, RAY C BÀN IN CUNG CẤP SỈ LẺ











    ================================================== ================================================== ====

    Nhôm là gì?

    Nhôm là kim loại màu trắng bạc , mềm , nhẹ , độ phản ánh cao , có tính dẫn nhiệt và dẫn điện cao , không độc , chống mài mòn. Nhôm là kim khí có nhiều thành phần nông dân nhất , chiếm 1/12 trong vỏ trái đất. Tuy nhiên , ta không tìm thấy nhôm thuần khiết trong tự nhiên , chỉ có xác xuất tìm thấy nhôm phối hợp với oxygen và những nguyên tố khác. Trong Chỗ ở nhôm thường được gọi là hợp kim nhôm.

    Trong số các kim loại , nhôm vượt trội về tính chất cũng như hình thức và nhờ vào kỹ thuật làm ra làm cho nhôm có giá cả tranh đua với nhau. Nhôm được sử dụng càng ngày càng nhiều trong nhiều ngành , những thị trường lớn như ngành công nghiệp ôtô bắt đầu nhận ra phản ứng không thể so sánh được của nhôm.

    2.Tìm nhôm ở đâu và như thế nào?

    Quặng Bauxite là nguồn nhôm chủ yếu.

    Sau khi lọc , làm mát và kết tủa , hỗn hợp nhôm được lọc một lần nữa trước khi được nung thành bột. Sau đó là quá trình gạn , nung và nấu thành thỏi nhôm thuần chất .

    3 .Hợp kim

    Trong lò nấu hợp kim , nhôm thỏi được nấu chảy và trộn với kim loại khác như magnesium , silica , đồng… để gây nên hợp kim nhôm được sử dụng thông đạt các ngả. Thành phần nông dân vật lý của hợp kim nhôm này được quyết định bởi các kim loại bên trong nó. Chẳng hạn:

    - Hợp kim nhôm + Manganese chống mài mòn cao

    - hợp kim nhôm + Magnesium có tính hàn tốt

    - hợp kim nhôm + Đồng có tính gia công cao

    - hợp kim nhôm + Kẽm có độ bền cao

    4.Tính chất

    • Khối lượng riêng nhỏ (. 2 , 7g/cm³ ) nên nhôm và hợp kim nhôm chỉ nặng bằng 1/3 thép , đó là tính chất đặc biệt được coi trọng khi các thiết bị cần chế tạo phải coi trọng đến trọng lượng ( trong ngành v , vận tải... ).

    • Tính chống bào mòn trong khí quyển: Do phản ứng ôxy hoá của nó đã biến lớp bề mặt của nhôm thành ôxít nhôm ( Al2O3 ) rất xít chặt và chống bào mòn cao trong khí quyển , "một năm do đó nó sẽ bị lãng quên" chúng có thể dùng trong đa ngành mà không thèm sơn canh giữ. Để tăng tính chống bào mòn , người ta đã làm cho lớp ô xít nhôm gác canh dày thêm bằng cách anot hoá.

    • Tính dẫn điện: Tính dẫn điện của nhôm bằng 2/3 của đồng ( kim khí ) , nhưng do nhôm nhẹ hơn nên chúng được sử dụng nhiều hơn bởi nếu cùng truyền một dòng điện thì dây nhôm nhẹ hơn bằng 1/2; ít bị nung nóng hơn...

    • Tính dẻo: Rất dẻo , nên rất thuận lợi cho việc kéo thành dây , tấm , lá , băng , màng , ép chảy thành các thanh có biên dạng đặc biệt ( dùng cho khung cửa , các loại tản nhiệt...rất tiện lợi khi sản xuất ).

    • Nhiệt độ nóng chảy: tự do tương đối thấp nên thuận tiện cho việc nấu chảy khi đúc , nhưng cũng làm nhôm và hợp kim nhôm không sử dụng được ở nhiệt độ cao hơn 300-400 độ C.

    • Độ bền , độ cứng: Thấp.

    5.Phân loại

    Hợp kim nhôm biến dạng

    Được chia làm hai loại là hợp kim nhôm biến dạng hoá bền được bằng nhiệt luyện và hợp kim nhôm biến dạng không hoá bền được bằng nhiệt luyện. Có một số vận dụng sau:

    • Nhôm thương phẩm ( >99 , 0% ):

    o Dùng trong công nghiệp hoá học , thực phẩm , đông lạnh , làm thùng chứa ( AA1060 )

    o Dùng làm dây cáp điện ( dây trần hoặc dây bọc ): AA1350

    Tạp chất có hại trong nhôm sạch bao gồm: Fe , Si tạo lên các pha giòn FeAl3

    • Hợp kim Al-Mn

    • Hợp kim Al-Mg

    Hợp kim nhôm đúc

    • Hợp kim Al-Si ( Silumin )

    • Hợp kim Al-Si-Mg( Cu )

    Là các loại hợp kim với khoảng Si rộng ( 5-20% ) và có thêm Mg ( 0 , 3-0 , 5% ) để tạo pha hoá bền Mg2Si nên các hệ Al-Si-Mg phải qua hoá bền.

    Cho thêm Cu ( 3-5% ) vào hệ Al-Si-Mg để cải thiện cơ tính và có tính đúc tốt do có các thành phần gần với cùng tin Al-Si-Cu nên được sử dụng trong đúc piston ( AA390.0 ) , nắp máy của động cơ đốt trong.

    hệ thống giao thông ký hiệu cho hợp kim nhôm

    Để ký hiệu các hợp kim nhôm người ta thường dụng theo hệ thống giao thông phân loại của Hoa Kỳ.

    Theo hệ thống giao thông phân loại này , các ký tự hàng đầu luôn là AA ( tiếng Anh: Aluminum Association )

    Các số sau thời gian ấy thường là: xxxxx đối với hợp kim nhôm biến dạng , và xxx.x đối với hợp kim nhôm cho loại đúc.

    Loại biến dạng

    • 1xxx: Nhôm sạch ( >99 , 0% )

    • 2xxx: Al-Cu , Al-Cu-Mg ,

    • 3xxx: Al-Mn

    • 4xxx: Al-Si

    • 5xxx: Al-Mg

    • 6xxx: Al-Mg-Si

    • 7xxx: Al-Zn-Mg , Al-Zn-Mg-Cu

    • 8xxx: Al-các hợp kim khác

    Đối với loại đúc:

    • 1xx.x: Nhôm sạch dạng thỏi hoặc dạng thương phẩm khác.

    • 2xx.x: Al-Cu

    • 3xx.x: Al-Si-Mg; Al-Si-Cu

    • 4xx.x: Al-Si

    • 5xx.x: Al-Mg

    • 7xx.x: Al-Zn

    • 8xx.x: Al-Sn

    ( Loại đúc không có 6xx.x )

    thời hạn Việt Nam TCVN 1659-75 quy định ký hiệu hợp kim nhôm được bắt đầu bằng Al và tiếp theo tuần tự ký hiệu hoá học của nguyên tố hợp kim cùng chỉ số % của nó , nếu là hợp kim đúc thì sau cùng có chữ Đ ( Ví dụ: AlCu4Mg là hợp kim nhôm chứa 4% Cu , 1%Mg ). Với nhôm sạch ký hiệu bằng Al và chỉ số phần trăm của nó ( ví dụ: Al99; Al99 , 5 )

    hổ lốn kim khí nóng chảy ở 500- 600 độ C được đúc thành cây. Những cây này có khả năng được cắt thành từng khúc nhỏ theo ý muốn và chúng được đưa đến các nhà máy để định hình. Nhôm định hình được vận dụng rông rãi trong đời sống của chúng ta như cửa nhôm , khung nhôm , và các phân bố chịu lực khác có tính cảm biết cái đẹp cao.

    6. Tính ưu việt của nhôm : “Ăn hẳn , mặc bền “ .

    - Cách âm , cách nhiệt:

    Được làm từ profile nhôm cách nhiệt phối hợp với hộp kính , hệ gioăng chống lão hóa và hệ phụ kiện kim khí đồng bộ , cửa nhôm và vách nhôm kính lớn có tình cảm âm , cách nhiệt cao.

    - Chịu lực tốt

    Profile nhôm có cầu cách nhiệt là loại nguyên liệu cao cấp dùng trong sản xuất cửa sổ , cửa đi , vách kính lớn. Hệ có cấu tạo 3 lớp gồm 2 thanh nhôm định hình và cầu cách nhiệt bằng vật liệu polymer ở giữa. Thêm vào đó , các rãnh , vách kỹ thuật trong kiến trúc thanh nhôm được toan tính kỹ lưỡng để tạo sống gia cường , kênh thoát nước , khoang trống cách âm cách nhiệt. Với cấu tạo này , thanh profile nhôm có tính cách âm , cách nhiệt cao và nổi hơn nhựa uPVC là tính chịu lực tốt.

    - thể hiện ở phân bố kiên cố của các thanh nhôm được sản xuất theo Các quy định quốc tế , có thể chịu được mọi áp lực của gió , bão trên cấp 12. , không bị cong vênh , co ngót , oxi hoá và han gỉ theo thời gian , thích nghi với những điều kiện thời tiết không đơn giản ở Việt Nam

    - tải trọng nhẹ

    Do đặc thù nhôm là nguyên liệu nhẹ , có độ bền cao , được thiết kế các khoang rỗng cùng với các sống gia cường hợp lý nên việc sử dụng nguyên liệu này sẽ giảm tải trọng của hết thảy công trình hơn hẳn so với vách tường sử dụng các loại nguyên liệu khác.

    - Kinh tế trong sử dụng

    Tại các tòa nhà cao tầng có nhiều diện tích vách tiếp kiến trực tiếp với ánh nắng kim ô. Phí tổn điện lực cho hệ thống giao thông Hài hòa , thông gió nhằm yên ổn hoàn cảnh không khí bên trong tòa nhà rất lớn. Sử dụng cửa nhôm hay vách nhôm kính lớn có cầu cách nhiệt với hộp kính cách âm , cách nhiệt làm từ các loại kính như kính phản quang , kính cản nhiệt , kính an toàn...... là giải pháp chính trong việc tiết kiệm điện năng.

    Profile nhôm đã được xử lí bề mặt và sơn tĩnh điện với công nghệ tiên tiến nên có độ bền cao , luôn giữ được màu sắc và kiến trúc của cửa ngay trong cả điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Ngoại giả cửa nhôm hay vách nhôm kính lớn còn thuận lợi cho gia chủ khi sơn , sửa bởi chỉ lau chùi bình thường là sáng đẹp như mới mà không để ý phải tu tạo , bảo dưỡng định kỳ.

    - Tính cảm biết cái đẹp

    Cửa nhôm kính rộng , sang trọng , nối và mở rộng được không gian , tạo được tầm nhìn bao quát cho căn phòng.



    - Không cháy và không có khí độc : Nhôm không cháy , khi nóng chảy cũng không tạo ra khí độc như nhựa .

    hiện tại sự Đa chủng trong thiết kế cửa nhôm và sự phát triển của công nghệ đã tạo cho người sử dụng nhiều ứng dụng với cửa nhôm hơn .

    - trông coi môi trường

    Nhôm được tái sinh với chi phí ăn nhập. Nó có khả năng được tái sinh nhiều lần mà không làm mất biến hóa bởi thế phù hợp với sản phẩm trông coi môi trường

    7.Sơn và xi mạ màu

    - Hiệp hội các nhà sản xuất nhôm trang trí Mỹ quy định độ dày lớp xi như sau:

    * Không xếp loại ( 0.1 đến 0.3 mili ) dùng trang trí trong nhà

    * Loại 2 ( 0.4 đến 0.7 mili ) dùng trang trí bên trong và bên ngoài nhà , thường chịu được các chất tẩy rửa

    * Loại 1 ( 0.7 đến 1.0 mili ) dùng trang trí bên ngoài nhà , đòi hỏi tính canh gác cao

    - Sơn nước và sơn tĩnh điện:

    Thành phẩm được sơn nước và sơn tĩnh điện để có ngoài mặt đẹp và canh giữ khỏi bi( ảnh hưởng của mưa acid , môi trường ô nhiễm sulfur , nhiễm muối và bị oxide hoá

    Có 2 loại dây chuyền sơn: sơn đứng và sơn nằm

    mặc dù có sự khác nhau giữa sơn nước và sơn tĩnh điện , cả hai đều có chung chức năng tạo bề mặt đẹp , bảo vệ khỏi tác hại của môi trường

    Cần kiểm tra bề ngoài và thành phần của sản phẩm theo những chương trình sau: độ cứng , độ dẻo , chống trầy xước , chống chất hoá học , chống mài mòn , không ghi bằng phấn , bền màu , độ bóng , chống tia cực tím và những phản ứng trông coi môi trường khác.

    Có 3 loại lớp phủ:

    AAMA 603: dùng cho cửa sổ , thời kì là 1 năm

    AAMA 605: dùng cho cửa kính , đòi hỏi thời kì lâu hơn , trên 5 năm

    ASCA 96: có vẻ ngoài đẹp và dùng trang trí đòi hỏi độ bền cao , thường trên 10 năm.

    ================================================== =================

    Nhôm là nguyên tố phổ quát thứ 3 ( sau ôxy và silic ) , và là kim loại phổ thông nhất trong vỏ trái đất. Đến bây giờ , nhôm được sử dụng rất nhiều trong đời sống. Nhưng ít người biết rằng nhôm đã có một thời mắc hơn cả vàng bạc , là món đồ xa xỉ của bậc đế vương!



    đồ dùng làm từ Nhôm

    Nhà viết sử cổ đại Plini Bố có thuật chuyện một sự kiện lý thú từng xảy ra gần hai mãi mãi về trước. Một hôm , một người lạ đến gặp hoàng đế La Mã Tibêri. Người đó mang tặng hoàng đế một cái chén do chính mình sản xuất từ một thứ kim khí lấp lánh như bạc , nhưng lại rất nhẹ. Người thợ nói rằng , anh ta lấy được thứ kim khí mà chưa ai biết này từ đất thó. Dễ thường Tibêri ít khi bận tâm biết ơn ai , và ông ta cũng là một hoàng đế hời hợt. Sợ rằng , thứ kim loại mới với những thuộc tính tuyệt trần của nó sẽ làm mất hết giá trị của đống vàng và bạc đang cất giữ trong kho , nên vị hoàng đế này đã ra lệnh chém đầu người phát minh và phá tan xưởng của anh ta để từ đấy về sau không còn ai dám sản xuất thứ kim khí “nguy hiểm” ấy nữa.



    Đó là chuyện có thật hay chỉ là truyền thuyết - thật khó nói. Nhưng dù sao thì “nguy cơ” cũng đã qua khỏi , và tiếc thay , đã qua lâu lắm rồi. Mãi đến thế kỷ XVI , tức thị khoảng một mãi mãi trăm năm về sau , lịch sử của nhôm mới được ghi thêm một trang mới. Vị y sự kiêm nhà vạn vật học đầy nhân tài người Đức là Philip Aureon Teofrat Bombat Fôn Hôhengây ( Philippus Aureolus Theophratus Bombastus Von Hohenheim ) - người đã đi vào lịch sử với biệt danh là Paratxen , đã làm được điều đó. Khi nghiên cứu các chất và các khoáng chất khác nhau trong đó có cả các loại phèn , nhà bác học này đã xác định được rằng , chúng là “muối của một loại đất chứa phèn nào đó” mà thành phần nông dân của nó có chứa oxit của một kim loại chưa ai biết; thứ oxit này về sau được gọi là đất phèn.



    Từ thời cổ xưa người ta đã biết đến các loại phèn mà Paratxen từng quan tâm. Theo confirm của nhà viết sử người Hy Lạp là Hêrođot ( sống ở thế kỷ thứ V trước công nguyên ) thì các dân tộc xa xưa đã dùng một loại chất khoáng mà họ gọi là “Alumen” , tức là “làm săn sợi” để giữ màu khi nhuộm vải. Chất khoáng này Ấy là phèn.



    Vào khoảng thế kỷ thứ VIII - IX , phèn đã được dùng để nhuộm vải , để thuộc da cừu , da dê ở nước Nga xa xưa. Thời trung thế kỷ , một số xưởng sản xuất phèn đã hoạt động ở châu Âu.

    Năm 1754 , nhà hóa học người Đức là Anđrêat Xighizmunđơ Macgrap ( Andreas Sigismund Marggaf ) đã tách được thứ “đất chứa phèn” mà Paratxen đã nói đến từ hai trăm năm trước đó. Phải qua mấy chục năm nữa , nhà bác học người Anh là Hanfri Đêvi ( Humphry Davy ) mới thử tìm cách tách thứ kim khí ẩn náu trong phèn. Năm 1807 , bằng cách điện phân các chất kiềm , ông đã phát xuất hiện natri và kali , nhưng ông chưa phân giải được đất phèn bằng dòng điện như thế. Mấy năm , nhà bác học người Thụy Điển là Iuên Iacop Becxêliut ( Jons Jakob Berxelius ) cũng bắt tay vào những cuộc thí nghiệm như vậy , song công cuộc của ông không thu được kết quả. Mặc dầu vậy , các nhà bác học vẫn quyết định đặt tên cho kim loại “bất trị” này: lúc đầu , Becxêliut gọi nó là alumium , và về sau , Đêvi đã đổi alumium thành aluminium ( nhôm ).



    Nhà bác học người Đan Mạch Hans Khrixtian Ecxtet ( Hans Christian Oersted ) là người đầu tiên chế được nhôm kim khí giống như người thợ vô danh thời cổ La Mã. Năm 1825 , trong một tập san hóa học , ông đã đăng một bài trong đó ông viết rằng , sau những thử nghiệm do ông tiến hành đã thu được “một mẩu kim khí có mầu và ánh kim hơi giống thiếc”. Nhưng tập san này không nổi tiếng lắm nên báo cáo của Ecxtet Đại khái không được giới khoa học Đoái đến. Vả lại , vì miệt mài nghiên cứu về điện tử nên chính nhà bác học đã không coi trọng phát minh này của mình.



    Hai năm sau , một nhà hóa học Đức trẻ tuổi nhưng đã lừng danh , tên là Friđric Vuêle ( Friederich Wohler ) đã đến Côpenhaghen để gặp Ecxtet. Ecxtet cho Vuêle biết là ông không định tiếp tục các thí nghiệm điều chế nhôm nữa. Thế là sau khi phản hồi nước Đức , Vuêle đã lao ngay vào Học hỏi Sự tình này - một Sự tình mà ông quan tâm từ lâu. Chỉ đến cuối năm 1827 , ông đã công báo thủ pháp điều chế kim khí mới này của mình. Sự thật thì biện pháp của Vuêle chỉ cho phép tách được nhôm ở dạng hạt có độ lớn không bằng đầu kim băng , nhưng nhà bác học đã nối làm thực nghiệm cho đến khi có đầy đủ tất cả các bộ phận cấu thành cần thiết các thủ pháp phối chế nhôm ở dạng khối đặc. Ông phải mất ... mười tám năm vào việc đó.



    Thời lúc này , kim loại mới này đã có tên tuổi ngay. Nhưng vì người ta chỉ thu được nó với lượng rất nhỏ nhoi nên giá của nó cao hơn giá vàng và tìm mua được nó không phải đơn giản.



    bởi thế , cũng rõ ràng rằng , khi một vị quốc vương ở châu Âu đã sắm riêng được cho mình một bộ hoàng bào đính cúc nhôm thì ông ta liền lên mặt với các vua chúa khác mà món xa xỉ như vậy không hợp với túi tiền của họ. Các vua chúa kia chẳng còn cách nào khác ngoài ghen tức với người có diễm phúc được làm chủ bộ cúc quý hiếm đó và đành âm thầm buồn bã chờ đến một ngày thuận hoà hơn.



    Chẳng phải chờ đợi lâu , niềm vui lớn đã đến với họ: năm 1855 , tại cuộc Cuộc trưng bày quốc tế ở Pari , người ta đã trưng bày "bạc lấy từ đất sét" làm kinh động dư luận. Đó là những tấm và thỏi nhôm do nhà bác học kiêm nhà công nghiệp người Pháp Hăngri Etien Xanh -Cle Đêvi ( Henri Etienne Sainte Claire Deville ) chế tạo ra.



    Trước khi Lộ rõ ra những vật trưng bày đó , một vài sự kiện sau đây đã xảy ra. Tạng ấy , Napôleon III - “đứa cháu bé tí của ông bác vĩ đại” - như những người đương thời thường gọi , là hoàng đế nước Pháp. Vốn là một kẻ thích chọc tức người khác , có một lần , ông ta mở một bữa tiệc , tại đó , những người trong họ hàng nhà vua và những vị khách vinh diệu nhất được dùng thìa và dĩa bằng nhôm. Còn những khách khác thì buộc phải sử dụng những công cụ ăn uống thường nhật ( song vẫn là những thứ dùng cho các bữa tiệc của hoàng đế ) bằng vàng và bạc. Đương nhiên là họ uất ức đến phát khóc lên và không tài nào nuốt nổi , nhưng biết làm sao được khi ngay cả hoàng đế lúc đó cũng chẳng thể sắm đủ cho mỗi vị khách một bộ đồ bằng nhôm theo yêu cầu. Và khi mà mệnh số ban cho ông ta một vị con trai vua để nối dòng thì người cha đầy diễm phúc đã ra lệnh cho người thợ kim hoàn trong cung đình làm một bộ đồ chơi xa xỉ bằng nhôm , vàng và các thứ đá quý.



    sau đó ít lâu , trong óc của Napôleon III đã chín muồi một đề án trêu ngươi , hứa hẹn một niềm vinh quang và hãnh diện , nhưng điều cốt tử là làm cho các vua chúa khác phải xanh mắt vì ghen tị: hoàng đế đã quyết định trang bị cho binh lính trong quân đội của mình những bộ áo giáp bằng nhôm. Ông ta dành cho Xanh - Cle Đêvin một Bớt đi lớn để ông này tìm cách chế được nhôm với số lượng lớn. Lấy phương pháp của Vuêle làm cơ sở cho những thực nghiệm của mình , Xanh - Cle Đêvin đã đề ra một quy trình công nghệ thích hợp , nhưng kim khí của ông sản xuất vẫn rất đắt. Chính vì thế nên lính tráng Pháp vẫn chưa được ướm thử những bộ áo giáp như vua chúa đã hứa hẹn , trong khi đó thì nhà vua lại rất quan hoài đến việc hộ vệ bản thân mình: vệ sĩ của ông đã được trưng diện những bộ áo giáp mới tinh.



    bè đảng Bônapac định lợi dụng việc Xanh - Cle Đêvin phối chế được nhôm thuần chất để nhen nhóm lên ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa: ở khắp mọi nơi , ngươi ta kêu gào về chủ quyền của nước Pháp trong việc phát Lộ rõ ra kim loại này. Đáng kính thay Xanh - Cle Đêvin , ông đã La ó những lời “thổi phồng” này bằng một Bắt đầu làm phù hợp với một nhà bác học đích thực , đồng thời cũng rất độc đáo: ông đã dùng nhôm do chính mình làm ra ra để khắc một tấm huy chương mang chân dung Friđric Vuêle , đề năm “1827” , rồi gửi tặng nhà bác học Đức.



    Chính ở thời kỳ lúa ra đòng này cũng đã xuất hiện “bạc Đêvin” với nhân cách là vật chưng bày trong Cuộc trưng bày quốc tế. Có khả năng , những người tổ chức cuộc triển lãm đã liệt nhôm vào hàng những kim khí thông dụng , nhưng tiếc thay nó vẫn chưa đạt tới điều đó. Thực ra , ngay từ thời bấy chừ , những người tiên tiến đã hiểu được rằng , khuy áo và áo giáp chỉ là những tình tiết nhỏ nhoi trong đời hoạt động của nhôm. Lần đi hàng đầu nhìn thấy những sản phẩm bằng nhôm , N. G. Checnưsepxki đã phấn chấn thốt lên: “kim loại này nhất quyết sẽ có một mai sau to lớn. Hỡi các bạn , trước mắt các bạn là thứ kim loại của chủ nghĩa xã hội”. Trong tiểu thuyết “Làm gì” của ông xuất bản năm 1863 có những dòng như sau: “...Nghệ thuật cấu trúc của ngôi nhà bên trong này thanh thoát biết bao , những bức tường giữa các cửa sổ gọn nhẹ mần răng. Các ô cửa sổ thì to lớn , rộng rãi , choán hết cả chiều cao tầng nhà... Còn sàn và trần nhà thì thế nào? Các cửa lớn và khung cửa sổ kia làm bằng gì? Đó là cái gì vậy? Bạc chăng? pla-tin ư?...Ô , bây chừ tôi mới biết , Xasa chỉ cho tôi một tấm bảng nhẹ như tấm kính , lại có cả bông tai và trâm cài đầu như vậy nữa; phải , Xasa nói rằng , sớm hay muộn rồi nhôm cũng thay thế gỗ , và có khả năng còn thay thế cả đá nữa. Nhưng sao lại rất nhiều thế. Chỗ nào cũng là nhôm... Và đây , trong phòng này nữa , một nửa sàn để ngỏ , và thế là rõ rồi , nó làm bằng nhôm...”



    Nhưng trong khi những dòng tiên tri này được Ghi chép thì nhôm cốt tử vẫn là thứ kim khí trang sức như trước. Một điều thú là năm 1889 , khi Menđelêep ở Luân Đôn , để tỏ ý nhấn công lao vượt hẳn lên-xuất chúng của ông trong sự nghiệp phát triển ngành hóa học , người ta đã tặng ông một món quà quý: một chiếc cân làm bằng vàng và nhôm.

    Xanh - Cle Đêvin đã triển khai hoạt động Dữ dội. Tại thị trấn La Glaxie , ông đã xây dựng nhà máy luyện nhôm hàng đầu trên thế giới. Nhưng trong quá trình nấu luyện , nhà máy đã thải ra nhiều khí có hại , làm ô nhiễm bầu khí trời của La Glaxie. Những người dân địa phương vốn chú trọng sức khỏe của mình và không muốn bị giết sức khỏe vì sự tiến bộ kỹ thuật nên đã khiếu nại lên chính phủ. Nhà máy đành phải chuyển đi nơi khác , lúc đầu , ra ngoại thành Pari , sau đó đến miền nam nước Pháp.



    Song Đến kì hạn này , nhiều nhà bác học đã thấy rằng , mặc cho tất cả các gắng gổ của Xanh - Cle Đêvin , phương pháp của ông cũng không có triển vọng. Các nhà hóa học ở các nước khác vẫn nối tiếp tìm tòi. Năm 1865 , nhà bác học Nga là N. N. Bekêtop đã đề xuất một phương pháp rất thú nhận. Biện pháp này đã chóng vánh được ứng dụng tại các nhà máy luyện nhôm ở các nước Pháp và ở Đức.



    Năm 1886 đã trở thành một cái mốc quan yếu trong lịch sử của nhôm , khi mà nhà bác học Mỹ là Saclơ Martin Hôn ( Charles Martin Hall ) và nhà bác học Pháp là Pôn Lui Tuxtanh Eru ( Paul Louis Toussaint Heroult ) một cách độc lập nhau đã hoàn thiện phương pháp điện phân để làm ra kim loại này ( Trong lịch sử khoa học và kỹ thuật có không ít những trường hợp mà hai nhà bác học trong cùng một năm đã đi đến những kết luận hoặc những phát minh như nhau. Sự trùng nhau này càng “chống chất” thêm bởi cả Hôn và Eru đều sinh năm 1863 và như thể đã định ước với nhau , cả hai nhà phát minh này đều mất năm 1914 ). Ý tưởng này không phải là mới: ngay từ năm 1854 , nhà bác học người Đức là Bunzen đã phát biểu ý nghĩ về việc điều chế nhôm bằng cách điện phân các muối của nó. Nhưng phải mất hơn ba mươi năm , ý định này mới được thực hiện. Do biện pháp điện phân đòi hỏi nhiều năng lượng , nên nhà máy đi hàng đầu làm ra nhôm bằng biện pháp này ở châu Âu đã được xây dựng ở Neyhazen ( Thụy Sĩ ) , gần thác nước sông Ranh - một nguồn điện rẻ tiền.



    bây giờ , sau hơn một trăm năm , chúng ta không thể tưởng tượng được việc làm ra nhôm mà không dùng phương pháp điện phân. Chính điều đó đã giúp các nhà bác học phải vắt óc suy nghĩ về một sự thực đầy bí mật như sau. Ở Trung Quốc có ngôi mộ của đại đô đốc danh tiếng là chu du , chết hồi đầu thế kỷ thứ III. Cách đây không lâu , một số họa tiết trang hoàng ngôi mộ đã được phân tách bằng quang phổ. Cuối cùng thật bất thần đến nỗi phải phân tách đi phân tách lại Hai ba lần , và mỗi lần như vậy , vạch kính quang phổ không thiên vị ai đã chứng tỏ hùng hồn rằng , thứ hợp kim mà những người thợ cổ xưa đã dùng làm họa tiết trang trí chứa tới 85% nhôm. Vậy bằng cách nào mà ngay từ thế kỷ thứ III người ta đã điều chế được kim loại này? Thời bấy giờ , con người biết đến điện họa chăng chỉ là qua sấm sét , mà chắc gì sấm sét thì chắc gì đã đồng ý tham dự vào quá trình điện phân. Thế tức là vẫn phải giả định rằng , từ thời xa xưa ấy đã có một biện pháp khác gì đó để điều chế nhôm , nhưng tiếc thay đã bị thất truyền hàng bao thế kỷ.



    Cuối thế kỷ XIX , ngành sản xuất nhôm đã trưởng thành vượt cấp , Cuối cùng là giá kim lo?i này giảm xuống rõ rệt và nó không còn được coi là thứ kim khí quý nữa. Đương nhiên , đối với những người thợ bạc thì chẳng có gì đáng quan hoài nữa , nhưng lập khắc nó thu được sự để ý của giới Công lao mà bấy giờ đang đứng ở ngưỡng cửa của những sự kiện lớn: ngành chế tác máy bắt đầu phát triển mạnh mẽ , ngành Công lao ô tô đã đứng vững , ngành Kĩ sư đang đi những bước hàng đầu mà trong đó nhôm đóng vai trò quan trọng nhất.

    ================================================== =============================

    Có 0 người thích bài viết này:
    Có 0 người không thích bài viết này:

  6. #6
    Member
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    45
    Thanks
    0
    Được Thanks 0 lần trong 0 bài
    chuyên cung cấp nhôm thành xe tải, I đà nhôm, nhôm xe bus ......gia công cắt , cung cấp phụ kiện thùng xe.

    lh 0937655551 mr phúc

    nhà máy: Ấp 5 vinh lộc b Bình Chánh



    tham khảo thêm wed:



    NHÔM ĐÓNG BỬNG THÙNG XE TẢI





    ================================================== ========================



    Những bí quyết của những người bán đồ chính hiệu được sản xuất ở những hãng có tên tuổi lớn quả

    giao tiếp hiệu quả là nền móng của mọi giao thiệp , và những người bán hàng thuyết phục nhất , thành công nhất đều có khả năng nói bằng ngôn ngữ của khách hàng. Câu hỏi đặt ra là: “Họ nói gì?”

    Steve W. Martin dạy về chiến lược bán hàng tại Trường kinh dinh Marshall thuộc Trường USC. Cuốn sách gần đây nhất của ông , Heavy Hitter Sales Psychology ( Tâm lý bán hàng của những người bán hàng hiệu quả ). Cuốn sách được viết dựa trên sự nghiệp bán hàng đầy thành quả của ông với thâm niên 20 năm.

    Nếu không có tiếng nói , bạn sẽ không thể nói lên các tâm tư suy nghĩ của mình hay thể hiện bản thân. Bạn cũng chẳng thể truyền tải được những nhu cầu , mong muốn của mình , và cuộc độc thoại trong tâm tưởng bạn sẽ dừng lại.

    Ngôn thực từ sự phản ánh con người thật của chúng tôi. Tuy nhiên , do nói lan tràn thặng dư mà thỉnh thoảng chúng tôi lại quên đi điều đó.

    Nhiều chuye nghiên cứu tiếng nói đã ra đời nhằm giúp chúng tôi Hiểu ra thêm về cách thức giao tiếp giữa con người với nhau.

    chả hạn , ngữ ngôn học từng lớp tìm hiểu về cách sử dụng tiếng nói trong xã hội và các màng lưới xã hội; ngôn ngữ học tâm lý Học hỏi sự hấp thụ , sử dụng , và thể hiện ngôn ngữ của não bộ; còn ngôn ngữ học tâm thần lại quan hoài tới quá trình xử lý ngôn ngữ của cơ cấu não bộ.

    “Ngôn ngữ học bán hàng” là sự kết tinh thành tựu của các lĩnh vực trên , từ đó giúp chúng ta hiểu về cách sử dụng và diễn giải tiếng nói của người bán hàng và khách hàng tiềm năng của họ trong quá trình ra quyết định.

    giao tiếp công hiệu là nền móng của mọi giao du , và những người bán hàng thuyết phục nhất , Thành tựu nhất đều có khả năng nói bằng ngôn ngữ của khách hàng. Câu hỏi đặt ra là: “Họ nói gì?”

    ngôn ngữ học bán hàng đưa ra ba nguyên tắc cơ sở để trở thành người bán hàng hiệu quả: mỗi khách hàng đều giao tiếp bằng tiếng nói riêng của họ , người bán hàng thành công xây dựng mối giao tế tốt đẹp với họ thông qua hoạt động giao tiếp Thân ái , và lần cuối , con người bị thuyết phục dựa vào những mối giao thông cá nhân.

    chúng tôi hãy cùng đi sâu tìm hiểu về ba nguyên tắc này:

    1. Khách hàng sử dụng ngôn ngữ riêng

    phần nhiều các công ty đều trang bị cho hàng ngũ bán hàng của mình một phương pháp bán hàng đại trà. Nhưng thật không may , mỗi người trên thế giới đều tiếp xúc với nhau bằng một ngôn ngữ riêng biệt.

    ngôn ngữ bạn sử dụng hình thành nên từ những trải nghiệm thường nhật – nơi bạn lớn lên , ngôn ngữ mà những người thân yêu quanh bạn sử dụng , học hiệu của bạn , bè bạn , nghề nghiệp của bạn , số tiền bạn có trong trương mục , và thậm chí là cả đời sống tinh thần bạc nhược của bạn nữa.

    Vì Chỗ u ám nào khác có đúng và đủ những trải nghiệm hệt như của bạn , nên không ai nói đúng thứ ngôn ngữ mà bạn dùng.

    bởi vậy , ngôn ngữ mà hai người khác nhau dùng để miêu tả về cùng một tình huống – hay cách họ diễn giải cùng một tiếng nói – có khả năng sẽ rất khác nhau.

    chả hạn , khi đọc từ “con rắn” có xác xuất trong đầu bạn liền hình dung ra một con rắn chuông , con trăn , hay một con rắn hổ mang.

    Những hình ảnh đó là những diễn giải cụt khác nhau về cùng một từ , song có xác xuất theo lẽ tự nhiên , chúng đều khêu gợi lên sự sợ hãi và những cảm xúc tiêu cực.

    trái lại , nếu khi nhỏ bạn từng nuôi một con rắn cưng làm cảnh , thì khi nghe tới từ “con rắn” , trong tâm trí bạn lại xuất hiện những mối liên tưởng tích cực.

    Do ngôn từ chứa đựng nhiều ý nghĩa cá nhân khác nhau , nên có thể bạn lại liên quan tới hình ảnh một thương gia vô đạo đức khi lần đầu gặp mặt với từ “con rắn”.

    2. Xây dựng mối giao tế tốt đẹp phê chuẩn tiếp xúc với nhau hòa hợp

    Thật không may , khi gặp mặt với khách hàng tiềm năng , phần lớn những người bán hàng đều trò chuyện bằng ngôn ngữ riêng của họ và chỉ nói về bản thân họ mà thôi.

    Chủ đề bao quát của tuốt cuộc trò chuyện là tôi , tôi , tôi: công ti tôi , các lợi ích của sản phẩm của tôi , các đặc trưng và tính năng của sản phẩm của tôi.

    Nhưng đối với những người bán hàng Thành tựu , họ lại nói về khách hàng: Sự tình của khách hàng , giá trị của khách hàng , các kế hoạch và mong muốn của khách hàng.

    Họ sử dụng ngôn ngữ của chính khách hàng để thiết lập nên một mối giao tiếp tốt đẹp.

    Mối giao tiếp ấm êm là một mối giao thiệp đặc biệt giữa hai cá nhân chủ nghĩa được xây dựng dựa trên hoạt động giao tiếp hòa hợp.

    Tuy nhiên , hoạt động tiếp xúc với nhau của con người lại diễn ra theo nhiều hình thức và cấp độ khác nhau.

    Một lượng thông báo khổng lồ được truyền tải bằng cả tiếng nói và phi ngôn ngữ , cả ý thức và tiềm thức.

    Một người bán hàng hiệu quả sẽ tự động điều chỉnh tư duy và tiếng nói của mình để phản ảnh tiếng nói của khách hàng.

    3. Thuyết phục người khác thông qua mối liên quan cá nhân chủ nghĩa

    nghề nghiệp của người bán hàng là thuyết phục người khác. Nhưng điều gì đã tạo nên sức thuyết phục ở họ? Phải chăng đó là kiến thức và khả năng nhắc lại như một cái máy những lý do giải thích tại sao khách hàng nên mua sản phẩm của họ?

    Trên thực tế , những người bán hàng thuyết phục nhất lại không một mực phải hiểu rõ về sản phẩm họ bán , bởi để thay đổi ý kiến của người mua thì lý do và logic vẫn là chưa đủ. Cần phải thiết lập một mối liên hệ cá nhân nữa.

    Thuyết phục là quá trình hướng những niềm tin và ý kiến của bạn vào người khác.

    mục đích của nó không phải là khiến người khác phải đồng ý với các lập luận của bạn , mà là khiến họ hấp thụ thông điệp bạn đưa ra bởi họ tin rằng bạn làm thế Bởi vì lợi ích của họ.

    Về thực chất , thuyết phục chính là khả năng “gõ cửa” các xúc cảm cá nhân chủ nghĩa và tiếp cận nhân tố ra quyết định trong tiềm thức của người đó.

    Người bán hàng Thành tựu cũng đồng thời là người tiếp xúc với nhau giỏi; họ biết cần phải nói gì và nói như thế nào.

    Nhờ nhân kiệt tiếng nói , họ có thể truyền đạt và giải mã những thông điệp ẩn mà những người bán hàng kém Thành tựu hơn thường bỏ qua.

    trong khi vẫn sử dụng cùng một thứ ngôn ngữ mà phần nhiều giới bán hàng đều sử dụng , họ lại xây dựng được cho mình một khả năng kỳ lạ , có xác xuất khiến những người vốn hiềm nghi cũng phải tin cậy vào họ và thuyết phục cả những người tuyệt đối xa lạ nghe theo lời họ khuyên.

    ngữ ngôn học bán hàng có khả năng giúp chúng tôi tìm hiểu quá trình người bán hàng biến những người “ngoại đạo” thành các “tín đồ” , và thuyết phục khách hàng tiềm năng mua hàng.

    Theo ehow

    Có 0 người thích bài viết này:
    Có 0 người không thích bài viết này:

+ Trả lời Chủ đề

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình