+ Trả lời Chủ đề
Kết quả 1 đến 2 của 2

Chủ đề: Sản xuất nhôm dùng làm khung miệng gió

  1. #1
    Junior Member
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    14
    Thanks
    0
    Được Thanks 0 lần trong 0 bài

    Sản xuất nhôm dùng làm khung miệng gió

    SẢN XUẤT - CUNG CẤP SỈ LẺ NHÔM THANH DÙNG LÀM KHUNG MIỆNG GIÓ CÁC LOẠI



    LH 0937 655 551 - 0983 994 326



    QUÝ KHÁCH CÓ THỂ THAM KHẢO THÊM TỪ HÌNH ẢNH WEDSITE CHÚNG TÔI:

    NHÔM KHUNG MIỆNG GIÓ CÁC LOẠI







    ================================================== ================================================== ================================================== ================================================== ========

    Nhôm ( tiếng Latinh : alumen , alum ) là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Al và sống mũi tử bằng 13. Đeo mặt nạ tử khối bằng 27 đvC. Khối lượng riêng là 2 , 7 g/cm 3 . Nhiệt độ nóng chảy là 660 o C. Nhôm là nguyên tố phổ biến thứ 3 ( sau ôxy và silic ) , và là kim loại phổ quát nhất trong vỏ trái đất. Nhôm chiếm khoảng 8% khối lớp rắn của trái đất. Kim loại nhôm hiếm phản ứng hóa học mạnh với các mẫu quặng và hiện diện ngăn lại trong một giới hạn nhất định trong các môi trường khử cực mạnh. Tuy thế , nó vẫn được tìm thấy ở dạng hợp chất trong hơn 270 loại khoáng vật khác nhau. [4] Quặng chính chứa nhôm là bô xít .



    Nhôm có điểm đáng chú ý của một kim loại có tỷ trọng thấp và có xác xuất chống bào mòn hiện tượng thụ động. Các thành phần kiến trúc được làm từ nhôm và hợp kim của nó là rất quan yếu cho ngành công nghiệp cơ giới vũ trụ và rất quan trọng trong các chuye khác của liên lạc chuyên chở và nguyên liệu cấu trúc. Các hợp chất bổ ích nhất của nhôm là các ôxít và sunfat.



    mặc dầu nó hiện diện phổ quát trong môi trường nhưng các muối nhôm không được bất kỳ dạng sống nào sử dụng. Với sự phổ quát của nó , nhôm được thu nạp tốt bởi thực vật và động vật. [5]



    Từ "nhôm" trong tiếng Việt có nguồn gốc từ aluminium trong tiếng Pháp .







    tính chất [ sửa sửa mã nguồn ] Nhôm là một kim loại mềm , nhẹ với màu xám bạc ánh kim mờ , vì có một lớp mỏng ôxi hóa tạo thành rất nhanh khi nó để trần ngoài không khí . Tỷ trọng riêng của nhôm chỉ khoảng một phần ba sắt hay đồng ; nó rất mềm ( chỉ sau vàng ) , dễ uốn ( đứng thứ sáu ) và dễ dàng gia công trên máy móc hay đúc; nó có khả năng chống bào mòn và bền vững do lớp ôxít trông coi. Nó cũng không nhiễm từ và không cháy khi để ở ngoài không khí ở hoàn cảnh thông thường .



    Sức bền của nhôm tinh khiết là 7–11 MPa , trong khi hợp kim nhôm có độ bền từ 200 MPa đến 600 MPa. [6] Các nguyên tử nhôm sắp xếp thành một kiến trúc lập phương tâm mặt ( fcc ). Nhôm có năng lượng xếp lỗi vào khoảng 200 mJ/m 2 . [7]



    Nhôm phản ứng với nước tạo ra hydro và năng lượng:



    2 Al + 6 H 2 O → 2 Al( OH ) 3 + 3 H 2

    tính chất này có xác xuất dùng để sản xuất hydro , tuy nhiên phản ứng này chóng vánh dừng lại vì tạo lớp kết tủa keo lắng xuống , ngăn cản biến hóa xảy ra. [8]



    Khi ngâm trong dung dịch kiềm đặc , lớp màng này sẽ bị gây thiệt hại nhiều theo phản ứng



    Al( OH ) 3 +NaOH → NaAlO 2 + 2H 2 O

    nối Al lại hiệu quả với nước như biến hóa trên. Quá trình này lại diễn ra đến khi Al không bị hòa tan hết.



    Lịch sử [ sửa sửa mã nguồn ] Tham chiếu hàng đầu tới nhôm ( mặc dầu chẳng thể chứng minh ) là trong Naturalis Historia của Gaius Plinius Secundus ( tức Pliny anh ):



    Có một càng ngày càng người thợ vàng ở Roma được phép cho hoàng đế Tiberius xem một chiếc đĩa ăn làm từ một kim loại mới. Chiếc đĩa rất nhẹ và có màu sáng như bạc . Địa ngục thợ vàng nói với hoàng đế rằng ông đã làm ra kim loại từ đất sét thô. Ông cũng cam đoan với hoàng đế rằng chỉ có ông ta và chúa Trời biết cách sản xuất kim loại này từ đất sét. Hoàng đế rất ham , và như một chuyên gia về tài chính ông đã quan hoài tới nó. Tuy nhiên ông nhận ngay ra là mọi Chia của cải vàng , bạc của ông sẽ mất giá trị giá như người dân bắt đầu sản xuất kim khí màu sáng này từ đất thó. Vì thế , thay vì cảm ơn người thợ vàng , ông đã ra lệnh chặt đầu ông ta . [9] [10]



    Những người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã sử dụng các loại muối của kim loại này như là thuốc cẩn màu ( nhuộm ) và như chất làm se vết thương , và phèn chua vẫn được sử dụng như chất làm se. Năm 1761 Guyton de Morveau đề xuất cách gọi gốc của Phèn trắng là alumine . Năm 1808 , Humphry Davy xác định được gốc kim loại của phèn chua ( alum ) , mà theo đó ông Mệnh danh cho nhôm là aluminium .



    tên tuổi của Friedrich Wöhler nói chung được gắn liền với việc phân lập nhôm vào năm 1827 . Tuy nhiên , kim loại này đã được sản xuất lần hàng đầu trong dạng không nguyên chất hai năm trước bởi nhà vật lý và hóa học Đan Mạch Hans Christian Ørsted .



    Nhôm được chọn làm chóp cho đài kỷ niệm Washington vào thời kì khi một aoxơ ( 28 , 35 g ) quý báu bằng hai lần ngày lương của người lao động. [11]



    Charles Martin Hall nhận được bằng sáng chế ( số 400655 ) năm 1886 , về quy trình điện phân để sản xuất nhôm. Henri Saint-Claire Deville ( Pháp ) đã hoàn thiện thủ pháp của Wöhler ( năm 1846 ) và biểu hiện nó trong cuốn sách năm 1859 với hai cải tiến trong quy trình là thay thế kali thành natri và hai thay vì một ( chlorure )??. Phát minh của quy trình Hall-Héroult năm 1886 đã làm cho việc làm ra nhôm từ khoáng chất trở nên không đắt tiền và hiện nay nó được sử dụng rộng rãi trên thế giới.



    Nước Đức trở nên nhà sản xuất nhôm lớn nhất thế giới sau khi Adolf Hitler lên nắm quyền. Tuy nhiên , năm 1942 , những nhà máy thủy điện mới như Grand Coulee Dam đã cho phép Mỹ những thứ mà nước Đức quốc xã không thể được tràn đầy hy vọng cạnh tranh: khả năng làm ra đủ nhôm để có xác xuất làm ra 60.000 máy bay khu trục trong bốn năm. [12] .



    áp dụng [ sửa sửa mã nguồn ] Tính theo cả số lượng lẫn giá trị , việc sử dụng nhôm vượt tất thảy các kim loại khác , trừ sắt [13] , và nó đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Nhôm thuần khiết có sức chịu kéo thấp , nhưng tạo ra các hợp kim với nhiều nguyên tố như đồng , kẽm , magiê , mangan và silic [14] . Khi được gia công cơ-nhiệt , các hợp kim nhôm này có các thuộc tính cơ học tăng lên đáng kể.



    Các hợp kim nhôm gây nên một thành phần quan yếu trong các máy bay và tên lửa do tỷ lệ sức bền cao trên cùng khối lượng.

    Khi nhôm được bay hơi trong chân không , nó tạo ra lớp bao trùm v cả ánh sáng và bức xạ nhiệt . Các lớp bao phủ này gây nên một lớp mỏng của ôxít nhôm canh gác , nó không bị hỏng hóc như các lớp bạc bao trùm vẫn hay bị. Trên thực tiễn , Hầu như tuốt các loại gương hiện đại được làm ra sử dụng lớp cộng chấn bằng nhôm trên mặt sau của thủy tinh . Các gương của kính thiên văn cũng được phủ một lớp mỏng nhôm , nhưng là ở mặt trước để tránh các cộng chấn bên trong mặc dù điều này làm cho bề mặt nhạy cảm hơn với các thương tổn.

    Các loại vỏ phủ nhôm thỉnh thoảng được dùng thay vỏ phủ vàng để phủ vệ tinh nhân tạo hay khí cầu để tăng nhiệt độ cho chúng , nhờ vào biến hóa hấp thu bức xạ điện từ của mặt trời tốt , mà bức xạ hồng ngoại vào ban đêm thấp.

    Hợp kim nhôm , nhẹ và bền , được dùng để trở tạo các chi tiết của phương tiện vận tải ( ô tô , máy bay , xe tải , toa xe tàu hỏa , tàu bể , v.v. )

    Đóng gói ( can , giấy gói , v.v )

    xử lí nước thuốc

    Xây dựng ( cửa sổ , cửa , ván , v.v; tuy nhiên nó đã đánh mất vai trò chính dùng làm dây dẫn phần sau chót của các mạng điện , trực tiếp đến người sử dụng. [15] )

    Các hàng tiêu dùng có độ bền cao ( trang thiết bị , đồ nấu ăn , v.v )

    Các đường dây tải điện ( mặc dầu độ dẫn điện của nó chỉ bằng 60% của đồng , nó nhẹ hơn nếu tính theo khối lượng và rẻ tiền hơn [16]

    chế tác máy móc.

    mặc dù tự bản thân nó là không nhiễm từ , nhôm được sử dụng trong thép MKM và các từ thạch Alnico .

    Nhôm siêu tinh khiết ( SPA ) chứa 99 , 980%-99 , 999% nhôm được sử dụng trong Công lao điện tử và làm ra đĩa CD .

    Nhôm dạng bột bình thường được sử dụng để tạo màu bạc trong sơn. Các bông nhôm có thể cho thêm vào trong sơn lót , cốt tử là trong xử lí gỗ — khi khô đi , các bông nhôm sẽ tạo ra một lớp kháng nước rất tốt.

    Nhôm dương cực hóa là yên ổn hơn đối với sự ôxi hóa , và nó được sử dụng trong các khu vực khác nhau của xây dựng.

    phần nhiều các bộ tản nhiệt cho CPU của các máy tính hiện đại được làm ra từ nhôm vì nó dễ dàng trong làm ra và độ dẫn nhiệt cao.

    Ôxít nhôm , alumina , được tìm thấy trong tự nhiên dưới dạng corunđum , emery , ruby và saphia và được sử dụng trong làm ra sao thủy. Ruby và saphia tổng hợp được sử dụng trong các ống tia laser để sản xuất ánh sáng có xác xuất giao thoa .

    Sự ôxi hóa nhôm tỏa ra nhiều nhiệt , nó sử dụng để làm vật liệu rắn cho tên lửa , nhiệt nhôm và các thành phần của pháo hoa .

    biến hóa nhiệt nhôm dùng để phối chế các kim khí có nhiệt độ nóng chảy cao ( như crôm Cr Vonfarm W... )

    Sự phổ thông , phối chế [ sửa sửa mã nguồn ] Đồng vị bền của nhôm được tạo ra khi hydro hợp hạch với magiê hoặc trong các sao lớn hoặc trong các vụ nổ siêu tân tinh . [17]



    mặc dù nhôm là nguyên tố phổ quát trong vỏ trái đất ( 8 , 3% theo khối lượng ) [18] , nó lại hiếm trong dạng tự do và đã từng được cho là kim loại quý đáng được coi trọng hơn vàng ( Người ta nói rằng Napoleon III của Pháp có các bộ đồ ăn bằng nhôm dự phòng cho những người khách quý nhất của ông. Những người khách khác chỉ có bộ đồ ăn bằng vàng ). Vì thế nhôm là kim loại tự do tương đối mới trong Công lao và được sản xuất với số lượng Công lao chỉ khoảng trên 100 năm.



    Nhôm khi mới được phát hiện là cực kỳ khó Chia ra khỏi các loại đá có chứa nó. Vì tất nhôm của trái đất tồn tại dưới dạng các hợp chất nên nó là kim khí khó nhận được nhất. Lý do là nhôm bị ôxi hóa rất nhanh và ôxít nhôm là một hợp chất cực kỳ vững bền , không giống như gỉ sắt , nó không bị bong ra.



    Sự tái chế nhôm từ các phế thải đã trở thành một trong những thành phần quan yếu của công nghiệp luyện nhôm . Việc tái chế đơn giản là nấu chảy kim khí , nó rẻ hơn rất nhiều so với làm ra từ quặng. Việc tinh chế nhôm tiêu hao nhiều điện năng; việc tái chế định mức hao khoảng 5% năng lượng để làm ra ra nó trên cùng một khối lượng sản phẩm. Mặc dù cho đến đầu thập niên 1900 , việc tái chế nhôm không còn là một khu vực mới. Tuy nhiên , nó là lĩnh vực hoạt động trầm lắng cho đến tận những năm cuối thập niên 1960 khi sự Phát nổ của việc sử dụng nhôm để làm vỏ của các loại đồ uống , kể từ đó việc tái chế nhôm được đưa vào trong tầm chú ý của cộng đồng. Các nguồn tái chế nhôm bao gồm ô tô cũ , cửa và cửa sổ nhôm cũ , các thiết bị Nhà ở cũ , contenơ và các sản phẩm khác.



    Nhôm là một kim loại hoạt động và rất khó phân lập nó ra từ quặng , ôxít nhôm ( Al 2 O 3 ). Việc khử trực tiếp , nếu với cacbon , là không kinh tế vì ôxít nhôm có điểm nóng chảy cao ( khoảng 2.000 °C ). Bởi thế , nó được Chia ra bằng cách điện phân – ôxít nhôm được hòa tan trong cryôlit nóng chảy và sau đó bị khử bởi dòng điện thành nhôm kim loại. Theo công nghệ này , nhiệt độ nóng chảy của hỗn hợp chỉ còn khoảng 950-980 °C. Cryôlit nguyên thủy được tìm thấy như một khoáng vật ở Greenland , nhưng sau thời gian ấy được thay thế bằng cryôlit tổng hợp. Cryôlit là hỗn tạp của các florua nhôm , natri và canxi ( Na 3 AlF 6 ). Ôxít nhôm trong dạng bột màu trắng thu được từ quặng bôxít tinh chế , quặng này có màu đỏ vì chứa khoảng 30-40% ôxít sắt. Nó được tinh luyện theo công nghệ Bayer . Trước khi có công nghệ này , công nghệ được sử dụng là công nghệ Deville .



    Công nghệ điện phân thay thế cho công nghệ Wöhler , là công nghệ khử clorua nhôm khan với kali .



    Các điện cực trong điện phân ôxít nhôm làm từ cacbon . Khi quặng bị nóng chảy , các ion của nó chuyển động tự do. Biến hóa tại catốt mang điện âm là:



    Al 3+ + 3e - → Al

    Ở đây các ion nhôm bị chuyển biến ( nhận thêm điện tử ). Nhôm kim loại sau đó chìm xuống và được đưa ra khỏi lò điện phân.



    Tại cực dương ( anode ) ôxy dạng khí được tạo thành:



    2O 2- → O 2 + 4e -

    Cực dương cacbon bị ôxi hóa bởi ôxy . Cực dương bị hao mòn dần và phải được thay thế thường xuyên , do nó bị mất mát do phản ứng:



    O 2 + C → CO 2

    trái lại với anốt , các catốt cơ hồ không bị tiêu hao trong quá trình điện phân do không có ôxy ở gần nó. Catốt cacbon được trông coi bởi nhôm lỏng trong lò. Các catốt bị bào mòn cốt tử là do các phản ứng điện hóa. Sau 5-10 năm , phụ thuộc vào dòng điện sử dụng trong quá trình điện phân , các lò điện phân cần phải tu sửa tuốt do các catốt đã bị bào mòn hoàn toàn.



    Điện phân nhôm bằng công nghệ Hall-Héroult mất mát nhiều điện năng , nhưng các công nghệ khác xoành xoạch có khuyết điểm về mặt kinh tế hay môi trường hơn công nghệ này. Thời hạn hao hụt năng lượng phổ biến là khoảng 14 , 5-15 , 5 kWh/kg nhôm được sản xuất. Các lò đương đại có mức tiêu thụ điện năng khoảng 12 , 8 kWh/kg. Dòng điện để thực hành nghề nghiệp điện phân này đối với các công nghệ cũ là 100.000-200.000 A . Các lò ngày nay làm việc với cường độ dòng điện khoảng 350.000 A. Các lò thí nghiệm làm việc với dòng điện khoảng 500.000 A.



    Năng lượng điện chiếm khoảng 20-40% trong giá thành của làm ra nhôm , nước phụ thuộc vào nơi đặt lò nhôm. Các lò luyện nhôm có khuynh hướng được đặt ở những lĩnh vực mà nguồn cung cấp điện rất nhiều với giá điện rẻ , như Nam Phi , đảo miền nam New Zealand , Úc , Trung Quốc , Trung Đông , Nga và Québec ở Canada .



    Trung Quốc hiện là nhà sản xuất nhôm lớn nhất thế giới ( năm 2004 ).



    Đồng vị [ sửa sửa mã nguồn ] Nhôm có chín đồng vị , số Z của chúng từ 23 đến 30. Chỉ có Al-27 ( đồng vị yên ổn ) và Al-26 ( đồng vị phóng xạ , t 1/2 = 7 , 2 × 10 5 năm ) tìm thấy trong tự nhiên , tuy nhiên Al-27 có sự phổ quát trong tự nhiên là 100%. Al-26 được sản xuất từ agon trong khí quyển do đụng chạm sinh ra bởi các tia vũ trụ proton . Các đồng vị của nhôm có ứng dụng thực tế trong việc tính tuổi của trầm tích dưới biển , các vết mangan , nước đóng băng , thạch anh trong đá lộ thiên , và các tinh thạch. Tỷ lệ của Al-26 trên beryli-10 được sử dụng để Học hỏi vai trò của việc chuyển hóa , lắng đọng , lưu trữ trầm tích , thời gian cháy và sự xâm thực trong thang độ thời kì 105 đến 106 năm ( về sai số ).



    Al-26 nguyên lai vũ trụ đi hàng đầu được sử dụng để Học hỏi trăng và các tinh thạch . Các thành phần của tinh thạch , sau khi thoát khỏi nguyên lai của chúng , trong khi ngao du trong không gian bị tấn công bởi các tia vũ trụ , sinh ra các nguyên tử Al-26. Sau khi rơi xuống trái đất , tấm chắn khí quyển đã canh giữ cho các phần tử này không sinh ra thêm Al-26 , và sự phân rã của nó có khả năng sử dụng để rõ ràng tuổi trên địa cầu của các thiên thạch này. Các nghiên cứu về thiên thạch cho thấy Al-26 là tự do tương đối phổ thông trong thời kì hình thành hệ hành tinh của chúng tôi. Có khả năng là năng lượng được giải phóng bởi sự phân rã Al-26 liên đới đến sự nấu chảy lại và sự sai biệt của một số tiểu hành tinh sau khi chúng hình thành cách đây 4 , 55 tỷ năm. [19]



    Cụm [ sửa sửa mã nguồn ] Trong tạp chí Science ngày 14 tháng 1 năm 2005 đã thông báo rằng các cụm 13 nguyên tử nhôm ( Al 13 ) được tạo ra có thuộc tính giống như nguyên tử iốt ; và 14 nguyên tử nhôm ( Al 14 ) có tính chất giống như nguyên tử kim loại kiềm thổ . Các nhà Học hỏi còn kết liên 12 nguyên tử iốt với cụm Al 13 để tạo ra một lớp mới của pôlyiốtua . Sự phát kiến này được thông báo là Cởi ra khả năng của các phản ứng mới của bảng tuần hoàn các nguyên tố : "các nguyên tố cụm". Nhóm nghiên cứu dẫn đầu bởi Shiv N. Khanna ( Đại học Virginia Commonwealth ) và A. Welford Castleman Jr ( Đại học tiểu bang Penn ). [20]



    báo trước [ sửa sửa mã nguồn ] Nhôm là một trong ít các nguyên tố phổ quát nhất mà không có chức năng có ích nào cho các cơ thể sống , nhưng có một số người bị dị ứng với nó — họ bị các chứng viêm da do gặp mặt với các dạng khác nhau của nhôm: các vết ngứa do sử dụng các chất làm se da hay hút mồ hôi ( phấn rôm ) , các rối loạn tiêu hóa và giảm hay mất khả năng tiếp nhận các chất dinh dưỡng từ thức ăn nấu trong các nồi nhôm , nôn ọe hay các triệu chứng khác của ngộ độc nhôm do ăn ( uống ) các sản phẩm như Kaopectate® ( thuốc chống đi rửa ) , Amphojel® và Maalox® ( thuốc chống chua ). Đối với những người khác , nhôm không bị coi là chất độc như các kim khí nặng , nhưng có dấu hiệu của bị trúng độc nếu nó được hấp thu nhiều , mặc dù việc sử dụng các đồ Bếp bằng nhôm ( phổ quát do khả năng chống ăn mòn và dẫn nhiệt tốt ) nhìn chung chưa cho thấy dẫn đến tình trạng bị trúng độc nhôm. Việc tiêu thụ qua nhiều các thuốc chống chua chứa các hợp chất nhôm và việc sử dụng quá nhiều các chất hút mồ hôi chứa nhôm có lẽ là nguồn duy nhất sinh ra sự ngộ độc nhôm. Người ta ý là nhôm liên đới đến bệnh Alzheimer , mặc dù các nghiên cứu gần đây đã bị bác bỏ.



    Cần cẩn thận để không cho nhôm tiếp xúc với một số chất hóa học nào đó có xác xuất ăn mòn nó rất nhanh. Ví dụ , chỉ một lượng nhỏ thuốc độc gặp mặt với bề mặt của miếng nhôm có khả năng gây thiệt hại nhiều lớp ôxít nhôm canh giữ bình thường có trên bề mặt các tấm nhôm. Trong vài giờ , thậm chí cả một cái xà có cấu trúc nặng nề có xác xuất bị làm yếu đi một cách rõ rệt. Vì lý do này , các loại nhiệt biểu thạch tín không được phép trong nhiều sân bay và hãng quáng dã , vì nhôm là thành phần cấu trúc cơ bản của các máy bay.



    Hóa học [ sửa sửa mã nguồn ] thể trạng ôxi hóa 1 [ sửa sửa mã nguồn ] AlH được điều chế khi nhôm bị nung nóng ở nhiệt độ 1500 °C trong hiđrô .

    Al 2 O được điều chế bằng cách nung nóng ôxít bình thường , Al 2 O 3 , với silic ở nhiệt độ 1800 °C trong chân không .

    Al 2 S được phối chế bằng cách nung nóng Al 2 S 3 với vỏ nhôm ở nhiệt độ 1300 °C trong chân không. Nó mau chóng bị chuyển thành các chất ban đầu. Selenua được điều chế tương tự.

    AlF , AlCl và AlBr tồn tại trong pha khí khi ba halua được nung nóng cùng với nhôm.

    trạng thái ôxi hóa 2 [ sửa sửa mã nguồn ] Subôxít nhôm , AlO có xác xuất được tồn tại khi bột nhôm cháy trong ôxy .

    trạng thái ôxi hóa 3 [ sửa sửa mã nguồn ] quy tắc Fajans chỉ ra rằng cation hóa trị ba Al 3+ là không được mong chờ tìm thấy trong các muối khan hay trong các hợp chất nhị phân như Al 2 O 3 . Hiđrôxít nhôm là một bazơ yếu và muối nhôm của các axít yếu , chả hạn như cacbonat , không thể tạo ra. Muối của các axít mạnh , chả hạn như nitrat , là ổn định và hòa tan trong nước , tạo thành các hiđrat với ít ra sáu phân tử nước kết tinh .

    Hiđrua nhôm , ( AlH 3 ) n , có thể sản xuất từ trimêthyl nhôm và hiđrô dư dả. Nó cháy kèm nổ trong không khí. Nó cũng có khả năng được phối chế bằng phản ứng của clorua nhôm trên hiđrua liti trong dung dịch ête , nhưng chẳng thể Cô đơn thành dạng không bị các nghĩa vụ hoặc trách nhiệm trói buộc từ dung dịch.

    Cacbua nhôm , Al 4 C 3 được sản xuất bằng cách nung nóng hổ lốn hai nguyên tố trên 1.000 °C. Các tinh thể màu vàng nhạt có kiến trúc lưới không đơn giản , và đặc tính với nước hay axít loãng tạo ra mêtan . Axêtylua , Al 2 ( C 2 ) 3 , được điều chế bằng cách cho axêtylen đi qua nhôm nóng.

    Nitrua nhôm , AlN , có thể được làm ra từ các nguyên tố ở nhiệt độ 800 °C. Nó bị thủy phân bởi nước tạo ra amôniắc và hiđrôxít nhôm .

    Phốtphua nhôm , AlP , được sản xuất na ná , và bị thủy phân thành phốtphin ( PH 3 ).

    Ôxít nhôm , Al 2 O 3 , tìm thấy trong tự nhiên như là corunđum , và có khả năng pha chế bằng cách đốt nóng nhôm với ôxy hay nung nóng hiđrôxít , nitrat hoặc sulfat. Như là một loại đá quý , độ cứng của nó chỉ thua có kim cương , nitrua bo và cacborunđum . Nó Hầu như không hòa tan trong nước.

    Hiđrôxít nhôm có thể được phối chế như là một chất kết tủa dạng gelatin bằng cách cho thêm amôniắc vào trong dung dịch của các muối nhôm. Nó là lưỡng tính , vừa là bazơ yếu vừa là axít yếu , có thể tạo ra các muối aluminat với kim khí kiềm . Nó tồn tại trong các dạng tinh thể khác nhau.

    Sulfua nhôm , Al 2 S 3 , có xác xuất điều chế bằng cách cho sulfua hiđrô đi qua bột nhôm. Nó là một chất đa hình.

    Florua nhôm , AlF 3 , có khả năng pha chế bằng cách cho hai nguyên tố hiệu quả với nhau hay cho hiđrôxít nhôm tác dụng với HF. Nó gây nên phân tử lớn , bay hơi không qua pha nóng chảy ở nhiệt độ 1.291 °C ( thăng hoa ). Nó là một chất rất trơ. Các trihalua khác là các chất dime , có cấu trúc cầu nối.

    Các hợp chất hữu cơ của nhôm có công thức chung AlR 3 tồn tại và nếu không phải là các phân tử lớn , thì là các chất dime hay trime . Chúng được sử dụng trong tổng hợp chất hữu cơ , nếu trimêtyl nhôm .

    Các chất alumino-hyđrua của phần lớn các nguyên tố có khả năng tích điện dương đã được biết , trong đó quý báu nhất là hiđrua nhôm liti , Li[AlH 4 ]. Khi bị đốt nóng , nó phân hủy thành nhôm , hiđrô và hiđrua liti , nó bị thủy phân trong nước. Nó có nhiều vận dụng trong hóa hữu cơ. Các alumino-halua [AlR 4 ] có cấu trúc tương tự.

    có tác động đến một điều gì đó lên thực vật [ sửa sửa mã nguồn ] Nhôm Ấy là một trong những yếu tố làm giảm sự tăng trưởng thực trên các đất chua. Mặc dầu nó không đặt vào thế bất lợi đối với sự phát triển của thực vật ở các đất có độ pH trung tính , khi nồng độ của cation Al 3+ trong đất chua tăng và làm rối loạn sự phát triển và chức năng của rễ. [21] [22] [23] [24]



    hầu hết các đất chua được bảo hòa với nhôm hơn là các ion hydro. Độ pH của đất là Cuối cùng của quá trình thủy phân các hợp chất nhôm. [25] Khái niệm dùng vôi để sắp xếp độ chua [26] để rõ ràng mực độ bảo hòa cơ sở trong các loại đất là cơ sở cho các công đoạn thí nghiệm đất trong phòng thí nghiệm , từ đó chính xác lượng vôi nhu yếu [27] cung cấp cho đất. [28]





    Quy trình làm ra nhôm định ảnh

    Quy trình làm ra nhôm được thực hành theo thời hạn ISO 9001:2008 sử dụng công nghệ sản xuất nhôm tiên tiến , cho sản phẩm đạt chất lượng và độ an toàn cao.

    quy trinh san xuat nhom thoi

    1. Nguyên liệu được nhập về dưới dạng thỏi thô , gọi là phôi nhôm.



    2. Thỏi nhôm được thẩm tra phân tích thành phần kim loại trước khi đưa vào lò nấu.



    3. Quá trình đúc nguyên liệu:



    đầu tiên là quá trình đúc phôi , sản phẩm nhôm nguyên chất Igot được đưa vào lò nung chảy ở nhiệt độ 660 độ C và tới nhiệt độ sôi , tiếp đến diễn ra quá trình hợp kim khí và quá trình này sẽ quyết định chủng loại nhôm đúc là nhôm nào , sản phẩm hợp kim nhôm đã nấu chảy được rót vào khuôn để thành hình billet và quá trình này sẽ cho ra các loại sản phẩm đường kính khác nhau theo yêu cầu , billet sau đúc được đồng dục để tạo sự đồng đều của hợp kim và ổn định của cấu trúc sau đó nó được cắt thành các đoạn tiêu chẩn và ra phôi là billet.



    Công đoạn chế tác billet

    quy trình làm ra nhôm quá trình đúc phôi trong quy trình làm ra nhôm







    4. Phôi nhôm sau khi phân tách thành phần kim khí đạt request sẽ được cắt thành từng đoạn nhỏ phù hợp với từng loại thanh nhôm rồi đem gia nhiệt và chuyển vào máy ép cho ra thanh nhôm định ảnh theo khuôn đã thiết kế.



    5. Thanh nhôm vừa ép ra tiếp kiến được đưa vào lò hấp để xử lý độ cứng cho thanh nhôm có được sự rắn chắc cần thiết.



    6. Sau khi xử lí độ cứng thanh nhôm phải qua khâu kiểm tra chức năng vật lý. Nếu đạt request các chức năng vật lý sẽ được đem đi xử lý bề mặt.



    7. Quá trình xử lí bề mặt cho ra 3 dòng sản phẩm khác nhau: Xi dương cực , sơn tĩnh điện , sơn vân gỗ.



    Công đoạn định hình nhôm



    quá trình đúc phôi trong quy trình làm ra nhôm





    Công nghệ sản xuất nhôm định ảnh

    + Phân xưởng đùn ép thanh nhôm định ảnh chất lượng cao



    + Phân xưởng anode xử lí và trang trí bề mặt thanh nhôm bằng biện pháp Anode hoá.



    + Phân xưởng sơn tĩnh điện và phủ film , xử lí và trang hoàng bề mặt thanh nhôm bằng phương pháp sơn tĩnh điện và phủ film.



    kiểm tra

    - Máy phân tách thành phần của sản phẩm



    - Máy thẩm tra dị tật đầu vào và đầu ra của sản phẩm



    - Máy phân tách tổ chức kim loại , Máy gia công khuôn điều khiển CNC , phòng phân tách bể hoá chất Anod và tiền xử lí



    - Máy thử độ bền kéo , thử độ bền uấn , Máy đo độ cứng bề mặt , Máy chính xác chiều dày của lớp phủ bề mặt , Máy thử độ mất màu



    Vật tư làm ra nhôm định hình

    + nguyên liệu cho khâu đùn ép – Billet 100% nhập cảng từ Australia , Malaysia , Thái lan và một số nước công nghiệp tiên tiến , Billet đều được biến tính Bo và Ti , và đồng hoá , đều được kiểm tra qua máy thẩm tra khuyết tật trước khi đùn ép , đảm bảo tạo ra được những sản phẩm nhôm thanh định ảnh chất lượng cao đáp ứng được các công trình có request cao về chất lượng.



    chương trình Billet:



    thời hạn về thành phần hoá học:



    + nguyên liệu cho khâu đùn ép – Billet 100% nhập khẩu từ Australia , Malaysia , Thái lan và một số nước Công lao tiền tiến , Billet đều được biến tính Bo và Ti , và đồng hoá , đều được thẩm tra qua máy thẩm tra khuyết tật trước khi đùn ép , đảm bảo tạo ra được những sản phẩm nhôm thanh định hình chất lượng cao đáp ứng được các công trình có yêu cầu cao về chất lượng.

    Có 0 người thích bài viết này:
    Có 0 người không thích bài viết này:

  2. #2
    Junior Member
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    14
    Thanks
    0
    Được Thanks 0 lần trong 0 bài
    DNTN TM Nhôm - Sắt Đại Phúc Linh

    email: lephuc.business@gmail.com

    TEL: 0937655551 Mr PHÚC - 0983994326 Mrs LINH

    VĂN PHÒNG : THIÊN PHƯỚC P9 TÂN BÌNH, TP.HCM






    Doanh nghiệp QTH chúng tôi chuyên cung cấp các loại nhôm thanh định hình cao cấp theo công nghệ tiên tiến nhất hiện nay. Qua nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực này, công ty chúng tôi không ngừng phát triển về mọi mặt để cho ra đời những sản phẩm đạt chất lượng tốt nhất.Với hơn khoảng 200 kiểu dáng sản phẩm khác nhau theo từng nghành nghề đáp ứng hầu hết nhu cầu của khách hàng trong mọi lĩnh vực như : xây dựng, trang trí nội ngoại thất và những sản phẩm phục vụ công nghiệp trong và ngoài nước. Đồng thời nhằm đáp ứng nhu cầu quý khách hàng chúng tôi còn nhận thêm gia công theo khuân mẫu, sơn tĩnh điện...Quý khách có thể tham khảo thêm từ trang Wed

    nhôm hộp đèn quảng cáo

    Danh sách các sản phẩm như sau:

    - nhôm thanh hộp đèn led làm quảng cáo các loại led 3 phân, led 5 phân, led 7 phân, led 8 phân (led 3D), led 9 phân, led siêu mỏng, led matrix,....




    - nhôm thanh V các loại kích thước từ v15 đến v35x45, độ dày mỏng khác nhau liên hệ chúng tôi để biết thêm chi tiết.



    ================================================== ================================================== ================================================== ================================================== ==Nhôm là kim khí nhẹ quan yếu nhất trong cuộc sống con người và là một trong bốn kim loại màu cơ bản. Bây giờ , nhôm và các hợp chất của nhôm được sử dụng thông đạt các ngả trong nhiều lĩnh vực sản xuất và Chỗ ở như chế tạo máy bay , ôtô , kỹ thuật điện , xây dựng , sản xuất gạch chịu nhiệt , làm ra sơn , phèn , công cụ Nhà ở , ... Về khối lượng sử dụng , nhôm chỉ đứng sau thép. Nhôm còn được sử dụng nhiều trong công nghiệp tài tực , nên được coi là một trong những kim khí chiến lược.



    >> Bài liên quan: Từ bauxite đến nhôm



    Phát triển công nghiệp nhôm sẽ góp phần công nghiệp hóa và đương đại hóa núi sông , tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp liên hệ ở trung ương và địa phương , phát triển kinh tế từng lớp , nâng cao dân trí cho đồng bào vùng miền núi. Công nghiệp nhôm phát triển sẽ góp phần tăng kim ngạch xuất cảng , cân đối ngoại tệ , tăng thu ngân sách , tạo công ăn việc làm và cải thiện Chỗ ở cho hàng vạn người lao động.



    Nếu chỉ tính riêng ngoại tệ để nhập nhôm kim khí , hàng năm nước ta phải như một lượng ngoại tệ lớn như sau:



    Năm 2000 : khoảng 160 triệu USD



    Năm 2005 : khoảng 250 triệu USD



    Năm 2010 : khoảng 390 triệu USD



    Năm 2015 : khoảng 480 triệu USD



    Trong tự nhiên , do hoạt tính cao nên nhôm chỉ tồn tại ở dạng các hợp chất , cốt tử trong các loại khoáng là felspat ( trường thạch ) và glimme cũng như sản phẩm phong hóa của chúng là các loại đất sét. Trong số các felspat và glime gồm có : kali felspat ( KAlSi 3 O 8 , natri felspat ( NaAlSi 3 O 8 ) , canxi felspat CaAl 2 Si 2 O 8 , muscovit KAl 2 ( AlSi 3 O 10 )( OH , F ) 2 , margarit CaAl 2 ( Al 2 Si 2 O 10 )( OH ) 2 , zyanit Al 2 O( SiO 4 ) , ... Trong số các loại đất sét chứa nhôm thì quan trọng nhất là boxit với thành phần là hỗn tạp các khoáng nhôm hydroxit khác nhau , tiếp theo là cao lanh có thành phần chủ yếu là Al 4 ( OH ) 8 Si 4 O 10 , kryolit với thành phần là Na 3 ( AlF 6 ) , và một số khoáng đất sét chứa nhôm với hàm lượng canxi , manhê hoặc sắt oxit cao.



    I. QUẶNG BOXIT



    Boxit là nham thạch có màu từ trắng đến đen , cốt yếu là hổ lốn các hợp chất vô cơ và nhôm hydoxit. Loại boxit thường gặp có vẻ đan. Các loại hình quặng boxit quan yếu là bơsmit , gipsit ( hydragilit ) , diaspo , alumogel.



    Boxit có thành phần nông dân tương đối Rắc rối , nhưng chính yếu là hỗn hợp các khoáng nhôm hydroxit , thường bị nhiễm bẩn bởi sắt oxit ( tạo ra vẻ son cho quặng ) hoặc silic oxit. Thành phần hóa học của boxit dao động giữa 50-63% Al 2 O 3 , 12-32 % H 2 O , 15-25 % Fe 2 O 3 , 2-10 % SiO 2 và 2-5 % TiO 2 .



    Hàm lượng nhôm oxit và silic oxit là những nhân tố quyết định chất lượng của quặng boxit.



    Nhôm oxit trong quặng boxit cốt yếu ở trong thành phần của hydroxit như diaxpo , bơmit , gipsit hoặc bayerit. Ngoại giả , nhôm oxit trong boxit còn có thể ở dạng corundum và trong thành phần nông dân khoáng của nhóm caolinit.



    Silic oxit trong quặng boxit nằm ở thể trạng tự do , nhưng cũng có khả năng trong thành phần nông dân khoáng alumosilicat và aluomopherosilicat. Silic oxit có có tác động đến một điều gì đó gây thiệt hại cho quá trình hòa tan quặng boxit , vì nó gây nên natri alumosilicat ít tan , làm tăng tiêu hao kiềm và nhôm , song song làm tắc đường ống và thiết bị.



    Sắt trong quặng boxit có khả năng thuộc vào các nhóm sau:



    - Nhóm oxit và hydroxit bao gồm hematit ( a -Fe 2 O 3 , g -Fe 2 O 3 ) , hydrohematit ( Fe 2 O 3 aq. ) , manhêtit ( Fe 3 O 4 ) , hetit ( HFeO 2 ) , limonit ( HFeO 2 aq. ).



    - Nhóm cacbonat bao gồm siderit FeCO 3 , ankerit Ca( MgFe( CO 3 ) 2



    - Nhóm silicat gồm samozit với thành phần cốt yếu là FeO , Al 2 O 3 , SiO 2 .



    - Nhóm sulfit và sunfat như FeS 2 , FeSO 4 .7H 2 O , Fe( SO 3 )( OH ).2H 2 O , KFe( SO 2 )( OH ) 3 .



    Titan oxit trong quặng boxit cũng ở trạng thái không bị các nghĩa vụ hoặc trách nhiệm trói buộc là rutin và anataz , hoặc ở các dạng hợp chất khác nhau như sphen CaTiO 2 SiO 2 , perobskit CaTiO 3 , ilmenit FeTiO 3 . Các hợp chất titan có xác xuất có tác động đến một điều gì đó bất lợi cho quá trình hòa tan nhôm..



    1. Tiềm n ăng qu ặng boxit của Việt Nam:



    kết quả dò hỏi địa chất đã phát hiện trên cương vực nước ta có trữ lượng quặng boxit sản vật phong phú ở cả Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam. Tổng trữ lượng quặng boxit của Việt Nam ước tính khoảng 8 tỷ tấn , trong đó có 7 , 6 tỷ tấn ở các tỉnh Tây Nguyên. Với trữ lượng như vậy , nước ta đứng trong số các nước có trữ lượng boxit lớn trên thế giới.



    Quặng boxit là nguồn tài nguyên lớn của nước ta , là cơ sở để hình thành ngành công nghiệp luyện nhôm , là nguồn lực quan yếu trong quá trình Công lao hóa , đương đại hóa đất nước.



    mặc dầu nhôm kim khí là sản phẩm quan yếu cho ngành kinh tế quốc dân và nước ta có sẵn nguồn vật liệu cũng như các hoàn cảnh khác để sản xuất nhôm kim khí ( thuỷ điện , nhân lực... ) nhưng ngày nay chúng tôi vẫn chưa làm ra được nhôm kim loại. Vì vậy , một trong mục tiêu mà chính phủ đã đề ra là xây dựng mới ngành Công lao nhôm Việt Nam , đáp ứng nhu cầu nhôm trong nước , tranh thủ xuất biên một phần sản phẩm sang các nước xung quanh , tạo cơ sở vật chất kỹ thuật ban sơ và hàng ngũ quản lý , kỹ thuật , đồng thời tích luỹ vốn để phát triển Công lao nhôm lâu dài với quy mô lớn , nhằm khai thác nguồn boxit sẵn có để xuất cảng các sản phẩm alumin và nhôm.



    Việt Nam có hai loại hình quặng boxit:



    1/ Loại quặng bơsmit và diaspo , tập trung chính yếu ở Miền Bắc Việt Nam , phân bố ở các tỉnh Hà Giang , Cao Bằng , Lạng Sơn , Bắc Giang ). Tổng trữ lượng dự đoán khoảng trên 350 triệu tấn , hàm lượng nhôm ngả nghiêng trong khoảng 39-65 %. Modul silic ( Al 2 O 3 /SiO 2 ) bằng 5-8. Cụ thể , quặng boxit phân bố như sau:



    - nhóm tụ khoáng Hà Giang: tài nguyên ước lượng khoảng 60 triệu tấn.



    - nhóm tụ khoáng Cao Bằng: tài nguyên ước chừng khoảng 240 triệu tấn.



    - nhóm tụ khoáng Lạng Sơn: tài nguyên đã được thăm dò và ước lượng khoảng 50 triệu tấn.



    - Mỏ Lỗ Sơn ( Hải Dương ) có trữ lượng cấp B là 97.000 tấn , trữ lượng cấp C 1 là 24.000 tấn , với hàm lượng như sau:



    Al 2 O 3 : 52 %



    SiO 2 : 6 , 4 %



    Fe 2 O 3 : 26 %



    TiO 2 : 2 %



    CaO : 0 , 53 %



    MgO : 0 , 24 %



    Mất khi nung : 12 %



    - Vùng Quỳ Hợp - Quỳ Châu có tài nguyên dự tính khoảng 1 triệu tấn với hàm lượng như sau:



    Al 2 O 3 : 30 - 50%



    SiO 2 : 2 , 12 - 36%



    Fe 2 O 3 : 18 - 30%



    2/ Loại quặng gipsit , tập kết chính yếu ở Tây Nguyên và Miền Nam Việt Nam , với tổng trữ lượng ước tính khoảng 7 , 6 tỷ tấn.



    Trữ lượng quặng boxit đã được thăm dò và chứng minh ở Tây Nguyên và Miền Nam Việt Nam là khoảng 2772 triệu tấn. Trong đó cụt các chuye như sau:



    * Tài nguyên vùng Đắc Nông - Phước Long khoảng 1.570 triệu tấn



    * Tài nguyên boxit vùng Lâm Đồng tập trung ở hai tụ khoáng là Tân Rai và Bảo Lộc.



    - Trữ lượng vùng khoáng Tân Rai khoảng 57 triệu tấn cấp C 1 , 120 triệu tấn cấp C 2 , hàm lượng như sau:



    Al2O3 44 , 69 %

    SiO2 2 , 61 %

    Fe2O3 23 , 35 %

    TiO2 3 , 52 %

    Mất khi nung

    24 , 3 %





    - Trữ lượng vùng tụ khoáng Bảo Lộc khoảng 378 triệu tấn.



    nhìn chung , quặng boxit nguyên khai ở Lâm Đồng đều có chất lượng không cao , hàm lượng Al2O3 chỉ khoảng 35 - 37%. Địa ngục ta phải tuyển rửa quặng nguyên khai để thu được tinh quặng giàu nhôm hơn. Sau khi tuyển , tinh quặng boxit ở các tụ khoáng Lâm Đồng cũng chỉ đạt hàm lượng 45 - 49% Al2O3.

    ngoại giả , quặng boxit miền Nam còn có ở các vùng Kon Plong , Phú Yên , Quảng Ngãi , với trữ lượng khoảng 106 triệu tấn. Nhìn chung , boxit Việt Nam ở hồ hết các vùng đều có thể khai khẩn lộ thiên.



    Tuy nhiên , trừ những khu mỏ lớn ở Lâm Đồng , trữ lượng quặng còn lại được kết cấu dàn trải , vỉa quặng không dày và hồ hết đều nằm trong các vùng canh tác nông , lâm nghiệp , nên sẽ có những khó khăn nhất quyết trong quá trình khai khẩn để làm ra nhôm quy mô lớn , do va chạm trực tiếp đến việc sử dụng đất làm ruộng , vấn đề cân bằng nước mặt , vấn đề quặng thải , Sự tình nước thải và nhìn chung là vấn đề sinh thái.



    2. Ứng dụng



    ứng dụng chính yếu của boxit là làm vật liệu cho Công lao luyện nhôm. Bộ môn công nghiệp làm ra nhôm kim khí tiêu thụ 85% quặng boxit trên toàn thế giới. Phần boxit còn lại được sử dụng trong hai lĩnh vực là làm ra alumin chuyên dùng ( 10% ) , bao gồm alumin nung và alumin hoạt hóa , và làm ra nguyên liệu chịu nhiệt ( 5% ) , giá dụ gạch chịu nhiệt , ximăng chịu nhiệt và các vật liệu mài.



    II. QUẶNG CAO LANH



    Quặng cao lanh là nham thạch mịn , tỷ trọng cao , cốt yếu gồm khoáng caolinit có lẫn tạp chất , được làm nên khi phong hóa các nham thạch felspat macma khác nhau. Cao lanh thuần khiết màu trắng tinh , nhưng quặng cao lanh thường thấy các màu khác nhau do nhiễm các tạp chất sắt và mangan. Thành phần hóa học chính yếu là Al 4 ( OH ) 8 Si 4 O 10 , với các tạp chất như thạch anh , muskovit , rutil , zircon , manhêtit và felspat chưa phong hóa hết. Quặng cao lanh hình thành do sự phong hóa các silikat nhôm , đặc biệt là các loại felspat. Phần nhiều quặng cao lanh tồn tại ở các mỏ nguyên sinh , đôi khi ở các mỏ thứ sinh , ít khi ở dạng đất sét.



    1. Tiềm n ăng qu ặng cao lanh của Việt Nam:



    Quặng cao lanh nước ta được phân bố ở nhiều nơi như: Lào Cai , Yên Bái , Phú Thọ , Thái Nguyên , Tuyên Quang , Hải Dương , Quảng Ninh , Đà Lạt , Đồng Nai , Sông Bé. Trong đó những mỏ quặng cao lanh đã được dò hỏi , khai thác là:



    - Mỏ Thạch Khóan , Phú Thọ gồm 4 vùng với tổng trữ lượng đã chính xác khoảng 3 , 2 triệu tấn. Trong số đó , vùng mỏ cao lanh Hữu Khánh là vùng mỏ đáng được coi trọng Công lao với hàm lượng quặng như sau:



    Al 2 O 3 18 - 49%

    SiO 2 47 , 5 - 76 , 1%

    Fe 2 O 3 0 , 11 - 2 , 9%

    Mất khi nung 9 , 81%







    - Mỏ Trại Mật , Lâm Đồng , với tổng trữ lượng đã dò hỏi là 11 triệu tấn. Mỏ có 4 thân quặng , dày trung bình 20 m. Hàm lượng trung bình như sau:



    Al 2 O 3 18 - 49%

    SiO 2 22 , 8 - 65%

    Fe 2 O 3 0 , 5 - 7 , 9%

    Mất khi nung 0 , 16 - 22 , 5%







    Trong tổng trữ lượng đã được dò hỏi ở mỏ Trại Mật , khoảng 3 triệu tấn là có thể khai thác tốt.







    - Mỏ Bảo Lộc hiện đạt công suất khai khẩn , tuyển rửa là 35.000 tấn/năm. Chất lượng quặng boxit tinh sau khi tuyển rửa là:



    Al 2 O 3 : 49%

    SiO 2 : 2 - 3%

    Fe 2 O 3 : 18 - 22%

    TiO 2 : 3 - 4%

    Hàm ẩm : 10%





    - Các mỏ cao lanh Tấn Mài ( Quảng Ninh ) , Trúc Thôn ( Hải Dương ) , Tuyên Quang đã được khai khẩn dùng làm gạch chịu nhiệt cho công ty gang thép Thái Nguyên. Cao lanh Tấn Mài ở dạng dickit và có thành phần hóa học như sau:



    Al 2 O 3 : 37 , 43%

    SiO 2 : 43 , 88%

    Fe 2 O 3 : 0 , 18%

    TiO 2 : 0 , 03%

    Na 2 O: 0 , 03%

    K 2 O : 0 , 05%

    P 2 O 5 : 0 , 09%

    MgO: 0 , 15%

    CaO: 0 , 21%





    ngoài ra , một số mỏ quy mô nhỏ ở các địa phương như Yên Bái , Phú Thọ , Hải Dương , Đồng Nai , Sông Bé đã được sử dụng để khai khẩn cao lanh làm vật liệu làm ra gốm sứ dân dụng , gốm sứ kỹ thuật , phèn nhôm , ...







    2. Áp dụng









    Từ cao lanh thô khai khẩn ở các mỏ , người ta ứng dụng các thủ pháp như rửa bùn , tuyển nổi , thẩm thấu điện , ...để thu được cao lanh kỹ thuật.



    Do những tính chất đặc biệt của nó ( dẻo ở thể trạng ẩm , rất cứng và bền sau khi nung ) nên cao lanh thường được sử dụng để làm ra các sản phẩm gốm sứ. Ngoại giả , cao lanh cũng được sử dụng làm phụ gia bản xuất giấy ( tạo bề mặt nhẵn , hút mực ) , làm ra các nguyên liệu chống thấm trong xây dựng , ... Cao lanh còn là vật liệu quan yếu để sản xuất các hợp chất nhôm.







    III. THỰC TRẠNG khai khẩn VÀ làm ra









    nói chung , các mỏ quặng boxit Việt Nam có những đặc trưng chính như sau:



    phần ưu tú : Mỏ tự do tương đối lớn , lớp đất phủ mỏng , chiều dày lớp chứa quặng đổi thay từ 1 đến 12m , hoàn toàn có thể khai khẩn bằng biện pháp lộ thiên , dễ dàng hoàn thổ và trồng lại rừng hoặc cây công nghiệp , quặng có hàm lượng nhôm oxit ở mức nhàng nhàng , quặng Miền Nam thuộc loại đơn thuần gipsit nên dễ xử lý ở nhiệt độ thấp , đầu tư không lớn , phí tổn vận hành thấp. Tuy quặng nguyên khai có chất lượng không cao nhưng bằng phương pháp tuyển rửa giản đơn có khả năng nhận được tinh quặng có chất lượng tốt để sản xuất alumin theo thủ pháp Bayer.



    Nhược điểm : Lớp quặng mỏng nên khai trường phát triển nhanh , Đại khái hết thảy quặng đều cần phải được tuyển rửa nên mất mát nhiều nước. Đại khái các mỏ đều nằm xa cảng biển , cơ sở hạ tầng chưa phát triển.



    Vì những điểm nêu trên nên theo quan điểm nhiều chuyên gia trong và ngoài nước , quặng boxit Việt Nam nếu xử lý tại chỗ để sản xuất alumin và nhôm thì chất lượng cao hơn mức bình thường hơn là xu ất khẩu quặng.



    1. Sản phẩm nhôm kim loại



    hiện nay , do chưa làm ra được nên chúng tôi phải nhập hết thảy nhôm. Trong mai sau , cùng với sự phát triển kinh tế , nhu cầu về nhôm kim khí sẽ càng ngày càng tăng. Mặt khác , thịt nhập khẩu nhôm ở các nước chung quanh cũng rất lớn. Điều đó đòi hỏi chúng tôi phải chóng vánh phát triển Công lao khai thác boxit và luyện nhôm để đáp ứng nhu cầu trong nước và hướng tới xuất biên nhôm khi có điều kiện.



    Đối với quặng boxit ở khu vực ấn độ dương Lâm Đồng , là nơi có trữ lượng boxit lớn nhất , hiện nay chúng ta mới chỉ khai khẩn và sử dụng để làm ra nhôm oxit và phèn nhôm.



    Trong những năm qua , Tổng công ti khoáng sản Việt Nam và công ty Pechiney ( Pháp ) đã liên doanh tiến hành khảo sát tiền khả thi và thực hành dự án Tổ hợp boxit nhôm Lâm Đồng. Đây là một trong những đề án trọng tâm , có quy mô lớn. Cuối năm 2002 , UBND tỉnh Lâm Đồng đã chính xác lĩnh vực khai khẩn mỏ , tuyển quặng và vịt xiêm xây dựng các nhà máy alumin , điện phân nhôm trong tổ hợp.



    Tổ hợp boxit-nhôm Lâm Đồng nằm ở địa bàn huyện Bảo Lâm ( khu khoáng sàng Tân Rai ) , có tổng vốn đầu tư hơn 667 triệu USD.



    đề án boxit Lâm Đồng bao gồm hai giai đoạn:



    - thời kì đầu từ 2003 đến 2013 , dự kiến tổ hợp boxit - nhôm sẽ đạt công suất hàng năm là 72.300 tấn nhôm điện phân , 300.000 tấn alumin ( trong đó 141 nghìn tấn để điện phân nhôm , còn lại sẽ xuất khẩu ) , khai thác mỏ 1.980.000 tấn quặng nguyên khai. -



    - giai đoạn hai ( thời kì mở rộng ) từ 2013 trở đi , công suất sẽ được nâng lên gấp 2 lần , đạt 146.100 tấn nhôm điện phân , 600.000 tấn alumin ( trong đó 284 nghìn tấn để điện phân nhôm , còn lại sẽ xuất biên ) và khai khẩn mỏ 3.960.000 tấn quặng nguyên khai.



    Trong vài năm qua , 5 thân quặng số 46 , 51 , 52 , 53 , 54 tại khu vực phía tây mỏ Tân Rai đã được lựa chọn đưa vào khai thác phục vụ cho cả dự án , có diện tích 40 km2 , nằm cách thị xã Bảo Lộc 15 km , cách thành thị HCM khoảng 200 km , cách Đà Lạt 120 km. Song song cũng đã Dự bị mặt bằng xây dựng nhà máy alumin và nhà máy điện phân nhôm thuộc địa phận thịt Lộc Thắng huyện Bảo Lâm , có diện tích khoảng 118 , 5 ha. Khu vực khai thác mỏ và tuyển quặng có tổng diện tích 42 km 2 , nằm ở địa bàn thịt Lộc Thắng và hai xã Lộc Phú , Lộc Ngãi ( Bảo Lâm ).



    Về công nghệ khai khẩn , trong quá trình khai khẩn sẽ tiến hành liên hoàn từ bóc đất phủ đến khai thác quặng , thực hành theo công nghệ sử dụng bãi thải trong kết hợp với bãi thải ngoài. Boxit được khai thác chính yếu trên các đỉnh đồi nhằm hạ độ cao và độ dốc của đồi , tạo hoàn cảnh cho việc tái tạo rừng và cây trồng cũng như phát triển kinh tế nông lâm nghiệp sau này. Trong quá trình khai thác và tuyển rửa , lượng bùn thải sẽ được lắng đọng trong của hồ nhân tạo. Nước được thải đi hoặc hồi lưu sau khi đã lắng trong.



    Về công nghệ làm ra nhôm , tổ hợp boxit-nhôm Lâm Đồng ứng dụng công nghệ điện phân tiên tiến của tập đoàn nhôm Pechiney theo phương thức chuyển giao công nghệ , sử dụng điện cực thiêu sẵn , nạp liệu điểm tự động , dòng điện 185 kA , bể điện phân AP-18. Đây là phương pháp điện phân nhôm nóng chảy theo công nghệ Hall-Heroult , tức là điện phân alumin hòa tan trong dung dịch muối nóng chảy criolit ở nhiệt độ 950-960 o C. Phương pháp này là công nghệ sản xuất nhôm Công lao độc nhất , đã tồn tại hơn 100 năm nay. Sản xuất alumin được thực hành theo thủ pháp hoà tách ở 105 o C và áp suất khí quyển.



    Về mặt liên lạc vận tải , trong giai đoạn đầu quặng boxit khai thác được chuyên chở bằng đường bộ , cốt yếu theo tuyến 20. Rồi đây , trong giai đoạn mở rộng sẽ xây dựng tuyến đường sắt Bảo Lộc - Thị Vải để xuất khẩu alumin và nhập khẩu nguyên vật liệu phù hợp cho tổ hợp.



    Theo toan tính , sau 30 năm hoạt động , chỉ với công suất ban đầu đề án sẽ đóng góp cho nhà nước gần 328 triệu USD gồm thuế ngày công doanh nghiệp và thuế tài nguyên. Ngoại giả còn có các nguồn lợi khác như thu ngoại tệ từ xuất khẩu alumin và kiệm ước ngoại tệ do không phải nhập cảng nhôm ( 4709 triệu USD ). Dự án cũng sẽ có những đóng góp rất quan yếu cho sự phát triển kinh tế từng lớp của địa phương.



    2. Các hợp chất nhôm



    ngày nay trên 90% sản lượng Al 2 O 3 kỹ thuật trên thế giới được dùng để luyện nhôm , chỉ khoảng 10 % được sử dụng cho các chuye phi luyện kim. Vì thế vai trò của vật liệu giàu nhôm trở thành rất quan yếu đối với các ngành làm ra gốm , thuỷ tinh , xi măng alumin , phèn nhôm , bột mài , cao su , .. , nhất là khi Việt Nam chưa có ngành Công lao riêng để làm ra vật liệu này.



    Nhôm oxit Al 2 O 3 là nguyên liệu được sử dụng nhiều để làm ra gạch chịu lửa , các sản phẩm thủy tinh , gốm sứ và một số loại xi măng chịu nhiệt. Hàng năm nước ta phải nhập khoảng 10.000 tấn nhôm oxit.



    Nguồn nguyên liệu alumin của nước ta , ngoài boxit Lâm Đồng còn có cao lanh Tấn Mài-Quảng Ninh , cao lanh Yên Bái , boxit Lạng Sơn và Quảng Ninh , ... Có xác xuất nói trữ lượng vật liệu cho Công lao tinh luyện nhôm oxit của Việt Nam khá lớn nên ngành Công lao này có mai sau phát triển tốt.



    Tại nước ta , năm 2001 công ti hóa chất căn bản Miền Nam đã đầu tư dây chuyền sản xuất nhôm oxit có công suất 400 tấn / năm , vận dụng công nghệ lò thoi ngắt quãng từng mẻ. Chất lượng sản phẩm nhôm oxyt của công ty đạt hàm lượng Al 2 O 3 ≥ 99 , 1 % , hàm lượng sắt ≤ 0 , 1 %.



    Nhôm oxit kỹ thuật thường được sản xuất bằng cách nung nhôm hydroxyt ở những nhiệt độ khác nhau như sau :



    - Sấy ở nhiệt độ dưới 300 o C : thu được Al 2 O 3 .3H 2 O dạng hydragilit



    - Sấy tiếp ở 300-400 o C: thu được Al 2 O 3 .H 2 O dạng bơsmit



    - Nung trên 500 o C : thu được g - Al 2 O 3 ( thành phần chính của nhôm oxit kỹ thuật thường nhật )



    - Nung trên 1000 o C : g - Al 2 O 3 chuyển hóa thành a - Al 2 O 3 ( corun , nhôm oxit kỹ thuật nung )



    Hàm lượng Al 2 O 3 thu được có khả năng đạt tới 99 - 99 , 5% tuỳ theo phương pháp rửa và tinh luyện. Đặc biệt độ mịn , hàm lượng pha tinh thể a - Al 2 O 3 ( corun ) và mực độ chuyển hóa thành a - Al 2 O 3 nước phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp nung và cách xử lí nhiệt.



    Nhôm oxyt kỹ thuật sản xuất theo thủ pháp Bayer truyền thống chính yếu chứa khoáng g - Al 2 O 3 . Đây là sản phẩm trung gian sau khi nung nhôm hydroxyt ở nhiệt độ trên 500 o C. Nhược điểm của sản phẩm loại này là hàm lượng tạp chất kiềm Na 2 O cao và khó tách , gây gây thiệt hại cho làm ra gốm và nguyên liệu chịu nhiệt. Khi sử dụng loại nhôm oxyt kỹ thuật này trong Công lao gốm sứ , người ta phải xử lý gia công rất Rắc rối và tốn kém: phải nung sơ bộ ở nhiệt độ cao ( khoảng 1450 o C ) rồi nghiền mịn lại trong máy nghiền bi thép hoặc nghiền rung , tiếp theo phải rửa sắt bằng axit rồi rửa lại bằng nước sạch , rồi mới đưa vào sử dụng trong phối liệu gốm sứ.



    Vào thập niên 1970 - 1980 , trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu xử lý nhôm oxyt kỹ thuật dùng cho gốm và vật liệu chịu nhiệt , nhưng khi áp dụng thực tế thì phí tổn sản xuất quá lớn , công hiệu không cao , giá thành sản phẩm cao nhưng chất lượng lại ngăn lại trong một giới hạn nhất định. Sang thập niên 1990 , bằng những tốt hơn trước kỹ thuật , nhiều công ti hóa chất trên thế giới đã vận dụng thủ pháp sol-gel , sa lắng hóa học hoặc plasma hóa học để sản xuất các loại Al 2 O 3 kỹ thuật nung với độ thuần khiết 99 , 7 % , hàm lượng tạp kiềm < 0 , 05 % , và đặc biệt là có cỡ hạt siêu mịn ( 5-10 mm ) với thành phần pha ≥ 95 % dạng a - Al 2 O 3 . Loại nguyên liệu này đã tạo ra bước đột phá trong Công lao gốm kỹ thuật , mở ra khả năng sản xuất các loại bê tông gốm ít xi măng , siêu ít xi măng hoặc không dùng xi măng thủy lực ( xi măng alumin ) , gốm cắt gọt , gốm bền nhiệt , bền cơ , gốm cách điện cao thế , vật liệu chịu lửa cao , alumin chất lượng cao , ... Có thể nói , trong thế kỷ 21 ngành làm ra nhôm oxyt kỹ thuật nung đã tuyệt đối từ bỏ các công nghệ truyền thống của thập niên 80.



    Với công nghệ mới , giá thành sản phẩm nhôm oxyt nung siêu sạch , kích thước hoặc kết cấu cực kỳ nhỏ không đắt hơn nhiều so với nhôm oxyt kỹ thuật dạng g - Al 2 O 3 truyền thồng. Bởi vậy , ngày nay sản phẩm nhôm oxyt kiểu mới đã trở nên vật liệu phổ quát cho ngành công nghệ gốm kỹ thuật và nguyên liệu chịu nhiệt , bê tông gốm.



    Để sản xuất nhôm oxit a - Al 2 O 3 ( corun ) dùng cho sản xuất các mặt hàng gốm kỹ thuật và nguyên liệu chịu nhiệt cao cấp , các cơ sở trong nước ta cần định hướng theo công nghệ đương đại của các nước đã làm , đó là nung kết tủa từ chế phẩm trung gian keo gel Al 2 ( OH ) 3 để thu được các dạng nhôm oxit kỹ thuật nung siêu mịn , siêu sạch , đạt độ chuyển hóa thành a - Al 2 O 3 ( corun ) trong sản phẩm nhôm oxit trên 95% ( chương trình quốc tế về chất lượng nhôm oxit kỹ thuật nung ).



    Nhôm hydroxyt là sản phẩm trung gian để sản xuất nhôm oxit và nhôm sunfat. Nhôm hydroxyt thường được làm ra từ quặng boxit theo công nghệ Bayer với những bước cơ bản như sau:



    - đập vụn , sấy và nghiền mịn quặng



    - phối trộn với dung dịch NaOH đặc



    - hòa tách trong nồi hấp ở nhiệt độ và áp suất cao trong vài giờ



    - rửa tách bùn đỏ ( gồm các hợp chất sắt , titan , silic , ... )



    - lọc dung dịch aluminat , khuấy trộn dung dịch này vài ngày trong thiết bị phân giải , tách nhôm hydroxyt kết tủa.



    Sản phẩm nhôm hydroxyt dạng gel có xác xuất được xử lý nhiệt để tạo ra các sản phẩm Al 2 O 3 kỹ thuật tuỳ theo nhiệt độ xử lý.



    Ở nước ta chỉ có duy nhất nhà máy hóa chất Tân Bình tại đô thị Hồ Chí Minh có dây chuyền làm ra nhôm hydroxyt , với công suất yên ổn hiện tại là 11.000 tấn/năm. Nhà máy sử dụng quặng tinh từ khu mỏ Trại Mát , bảo Lộc. Nguyên liệu boxit này có nguyên lai bơsmit và hàm lượng Al 2 O 3 khá cao ( khoảng 47 % ) , tuy nhiên hàm lượng Fe 2 O 3 và SiO 2 cũng khá lớn , đặc biệt là Fe 2 O 3 . Ưu điểm của loại boxit này là ngậm nước nên mềm , dễ gia công. Công nghệ làm ra nhôm hydroxyt được áp dụng tại nhà máy Tân Bình là công nghệ Bayer.



    Sản phẩm nhôm hydroxyt của nhà máy hóa chất Tân Bình đạt chất lượng như sau:



    Al 2 O 3 : min. 63%



    Na 2 O : max. 0 , 2%



    Hàm ẩm : max. 13%



    Do những giữ lại như hàm ẩm , lượng kiềm dư cao , cỡ hạt thô , ... Cần phải sản phẩm nhôm hydroxyt của nhà máy Tân Bình chẳng thể dùng cho gốm kỹ thuật và nguyên liệu chịu lửa. Chất lượng nhôm hydroxyt của Tân Bình còn thấp hơn so với sản phẩm nhập từ Trung Quốc.



    Nhôm sunfat Al 2 ( SO 4 ) 3 ( phèn nhôm ) được sử dụng chủ yếu để xử lý nước tại các nhà máy nước hoặc các hộ Nhà ở. Nhôm sunfat thường được làm ra từ nhôm hydroxyt và axit sunfuric.



    bây giờ nhà máy hóa chất Tân Bình làm ra các sản phẩm nhôm sunfat cấp 15% Al 2 O 3 và 17% Al 2 O 3 , cũng như các sản phẩm nhôm kali sunfat và nhôm amoni sunfat.



    Những năm dĩ vãng , nhiều cơ sở sản xuất phèn ở phía Bắc như Phú Thọ , Đức Giang , Hải Dương đã dùng cao lanh để làm ra phèn nhôm ( bằng đặc tính với axit sunfuric ) dùng cho mục tiêu xử lý nước và phèn tinh luyện dùng trong làm ra giấy. Nhưng chất lượng sản phẩm phèn nhôm theo phương pháp làm ra này rất thấp vì lẫn nhiều tạp chất và dư axit. Đến nay , do có nguồn nhôm hydroxyt của nhà máy hóa chất Tân Bình nên phần nhiều các cơ sở trên đã dùng nhôm hydroxyt để làm ra phèn thay cho cao lanh , nhờ đó tăng chất lượng sản phẩm , giảm mất mát axit và giảm lượng bã thải.



    IV. TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG



    1. Nhu cầu thị tr ư ờng



    Nước ta nằm trong khu vực có nhu cầu nhập khẩu nhôm vào loại lớn nhất trên thế giới. Hàng năm các nước ASEAN , Nhật Bản , Hàn Quốc , Đài Loan phải nhập trên 4 triệu tấn nhôm , Trung Quốc và Nga nhập 3-4 triệu tấn alumin để điện phân nhôm. Với vịt địa lý thuận lợi và mối giao tiếp kinh tế truyền thống , đây là thịt thà khu vực tiềm ẩn cho các sản phẩm nhôm của nước ta.



    Nhu cầu về sản phẩm nhôm trong nước ta hiện tại cũng khá lớn , mỗi năm nước ta nhập khoảng 70.000 tấn nhôm kim khí. Dự báo nhu cầu nhôm trong những năm tới sẽ như sau:



    Dự báo nhu cầu nhôm đ ến 2015



    Chủng loại

    2005

    2010

    2015



    Nhôm thỏi

    60.000

    80.000

    100.000



    Nhôm hình

    39.000

    65.000

    80.000



    Nhôm tấm , lá

    29.500

    35.000

    40.000



    Các loại khác

    10.050

    15.000

    20.000



    cộng tất cả lại

    138.550

    195.000

    240.000











    Về nhôm oxyt , nhu cầu nước ta ngày nay như sau:



    lĩnh vực sử dụng Nhu cầu hiện tại ( tấn Al 2 O 3 /năm )



    vật liệu xây dựng 450 - 500



    vật liệu chịu lửa 1900 - 2300



    Thủy tinh 500



    Gốm sứ 150 - 200



    Tổng cộng 3000 - 3500 tấn



    Dự báo , sau năm 2005 chỉ riêng nhu cầu nhôm oxyt kỹ thuật dùng cho công nghiệp silicat ( bao gồm các ngành sao thủy , gốm sứ , gốm kỹ thuật , nguyên liệu chịu lửa ) sẽ tăng lên đến 15.000 - 20.000 tấn /năm. Ví như tính cả tới nhu cầu của các ngành khác , nhất là khi Việt Nam thực hiện chiến lược phát triển ngành Công lao luyện nhôm , thì triển vọng thịt thà của ngành làm ra và cung cấp nhôm oxit kỹ thuật trong mai sau là rất lớn.



    Nước ta cũng có nhu cầu lớn về sản phẩm phèn nhôm , ngoại giả phèn nhôm còn có xác xuất được xuất khẩu sang một số thanh thủy chuye. Năm 2001 , công ti Hóa chất căn bản Miền Nam đã xuất được 1500 tấn phèn nhôm.



    2. Tình hình ngành Công lao nhôm ở một số n ư ớc



    Những nước và lĩnh vực có nhiều quặng boxit là các nước Địa Trung Hải của châu Âu như Pháp , Italia , Nam Tư , Rumani , Hy Lạp , và một số nước châu Âu khác như Hungari , Nga , Cadăctan. Những mỏ boxit lớn nhất thế giới nằm ở các nước châu Mỹ như Hoa Kỳ , Guyana , Haiti , Giamaica. Các nước như ấn Độ , Trung Quốc , Auxtralia , Gana , Camơrun , Modămbich , Madagasca , Thổ Nhĩ Kỳ , Inđônexia , ... cũng có những mỏ boxit lớn.



    bây giờ , trên thế giới có khoảng 20 nước khai thác boxit , 25 nước sản xuất alumin và 40 nước làm ra nhôm bằng phương pháp điện phân. Năm 2000 , tổng sản lượng các sản phẩm đó trên toàn thế giới như sau:



    - boxit : 135 triệu tấn



    - alumin : 52 , 8 triệu tấn



    - nhôm : 24 , 4 triệu tấn

    Những nước sản xuất boxit , alumin và nhôm quy mô lớn trên thế giới bây giờ là ( sản lượng năm 2000 , triệu tấn ):



    Nước

    Boxit

    Alumin

    Nhôm



    Australia

    52 , 34

    15 , 681

    1 , 769



    Mỹ

    0

    4 , 786

    3 , 668



    Trung Quốc

    8 , 00

    4 , 330

    2 , 820



    Braxin

    13 , 84

    3 , 743

    1 , 271



    Jamaica

    11 , 30

    3 , 640

    0



    Nga

    4 , 0

    2 , 890

    3 , 274



    Ấn Độ

    6 , 67

    2 , 100

    0 , 665



    Surinam

    3 , 80

    1 , 900

    0



    Vênêzuêla

    4 , 70

    1 , 750

    0 , 571



    Ucraina

    0

    1 , 360

    0 , 104



    Canada

    0

    1 , 200

    2 , 373



    Cdăcxtan

    3 , 73

    1 , 200

    0



    Tây Ban Nha

    0

    1 , 100

    0 , 366



    Italia

    0

    1 , 023

    0 , 189



    Đức

    0

    1 , 000

    0 , 644







    Như vậy , Australia hiện đang đứng đầu thế giới về sản lượng boxit ( chiếm 40 % sản lượng thế giới ) và alumin ( chiếm 30% ) , đứng thứ năm thế giới về sản lượng nhôm.



    Những nước làm ra nhôm đi hàng đầu thế giới là Mỹ , Nga , Trung Quốc , Canađa , Braxin và Na Uy , với sản lượng nhôm đạt từ 1 đến trên 3 , 5 tỷ tấn.



    3. Tình hình khai thác quặng nhôm và sản xuất nhôm tại một số n ư ớc châu Á



    Ấn Đ ộ:



    Trữ lượng boxit của Ấn Độ là 2 , 7 tỷ tấn , phần lớn nằm ở bờ biển phía Đông.



    Nhu cầu về các sản phẩm nhôm của ấn Độ đang ngày càng tăng , một phần do khuynh hướng chuyển sang dùng các vật liệu nhôm thay cho các vật liệu gỗ để gác canh môi trường . Trước kia Ấn Độ phải nhập nhôm kim khí , nay đã tự đáp ứng được nhu cầu bằng sản xuất trong nước và đã xuất khẩu nhôm có lãi.



    Trung Quốc:



    Trung Quốc có tổng cộng khoảng 300 mỏ boxit , tập kết ở các tỉnh Shanxi , Guizhou và Henan , nhưng ngoài ra cũng còn có ở Hebei , Shandong và Sichuan. Phần lớn lượng boxit xuất cảng của Trung Quốc được khai khẩn tại Shanxi và Guizhou.



    Mỗi năm Trung Quốc làm ra khoảng 4 , 5 triệu tấn boxit ( kể cả đất sét chịu lửa ) , trong số đó khoảng 3 triệu tấn được cung cấp cho thịt nội địa , còn 1 , 2 đến 1 , 5 triệu tấn được xuất biên ra ngoại bang. Ngoài boxit khai thác cho công nghiệp luyện nhôm , Trung Quốc còn làm ra ba loại boxit phi luyện kim là : boxit làm nguyên liệu chịu lửa , boxit làm vật liệu mài và boxit làm vật liệu que hàn.



    Sản lượng boxit phi luyện kim của Trung Quốc đạt khoảng 3-3 , 6 triệu tấn , trong số đó gần một nửa được xuất cảng. Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu boxit dùng làm vật liệu chịu lửa. Bây giờ , chỉ riêng xuất cảng boxit loại này của Trung Quốc đã lên đến khoảng 1 triệu tấn / năm , chiếm 70 % thịt thế giới.



    Trước thập niên 1980 , xuất biên boxit của Trung Quốc còn ở mức rất khiêm tốn , cốt tử là xuất sang Nhật Bản. Sau khi tiến hành cách tân kinh tế và mở cửa ra thịt quốc tế , sản lượng boxit của Trung Quốc đã ngày càng tăng và cuốn hút sự để ý của các thịt thà nước ngoài. Từ đó đến nay , Trung Quốc đã chiếm lĩnh thịt boxit quốc tế và trở thành nhà cung ứng boxit quan trọng trên thế giới.



    V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ



    Nước ta có nguồn vật liệu chứa nhôm rất dồi dào , trữ lượng lớn , bởi thế quốc gia cần có một chiến lược phát triển ngành Công lao nhôm một cách tất cả. Cần Đa chủng hóa các sản phẩm chứa nhôm vì ngày nay ở nước ta chỉ có Nhà máy Hóa chất Tân Bình là làm ra nhôm hyđroxyt phục vụ người ốm cốt yếu cho làm ra phèn nhôm. Các sản phẩm nhôm khác rất cần cho các ngành công nghiệp khác nhau như: oxyt nhôm kỹ thuật dùng cho ngành vật liệu chịu nhiệt với nhu chuồng xí thụ hàng năm khá lớn , oxyt nhôm hoạt tính dùng ngành dầu khí , bột nhôm hoặc các sản phẩm chứa nhôm khác v.v... , nhưng trong nước chưa sản xuất được. Vì vậy triển vọng phát triển ngành công nghiệp nhôm là khá lớn , nhà nước nên xem xét để đầu tư một cách có công hiệu nhất.



    Do hoàn cảnh đặc điểm của nước ta ngày nay là nguồn điện còn hạn chế , giá điện cao , Công lao nhôm của nước ta nên đi theo hướng phát triển là khai khẩn boxit , làm ra alumin quy mô lớn để xuất cảng , tiến tới làm ra các hợp chất nhôm khác , đồng thời khi có hoàn cảnh về thủy điện thì dành một phần nguồn điện này để xây dựng các nhà máy điện phân nhôm nhằm đáp ứng một phần nhu cầu nhôm kim khí trong nước.



    đề án boxit Lâm Đồng đang được triển khai là hoàn cảnh tiện lợi quan trọng cho sự phát triển của ngành Công lao nhôm. Nhưng chúng tôi phải song song xây dựng cơ sở nội lực về khoa học công nghệ , xây dựng đội ngũ công nhân , cán bộ có đủ Thấp để có thể tiếp thu khoa học công nghệ mới , đáp ứng được các request đa dạng và nghiêm nhặt của quá trình đầu tư và sản xuất.



    chúng ta cũng cần khai khẩn tối đa và bổ khuyết các kết quả nghiên cứu dĩ vãng , để làm cơ sở cho giai đoạn Học hỏi tiếp theo một cách thực sự khách quan và chuẩn xác.



    Vấn đ ề khai khẩn tận thu các nguyên tố hiếm từ quặng boxit



    Theo số liệu phân tách , quặng boxit Việt Nam có hàm lượng gali làng nhàng là 38g , còn hàm lượng vanađi là 757 g V 2 O 5 / tấn tinh quặng.



    Trong làm ra alumin cũng như trong các đề án lớn về sản xuất-chế biến nhôm ở nước ta , hiện nay chưa đặt Sự tình khai khẩn tận thu các nguyên tố hiếm trên trong quặng boxit. Trong lúc đó , các cơ sở sản xuất tương tự ở nhiều nước khác đều có khâu khai thác các nguyên tố này. Việc thu hồi gali và vanađi trong quá trình sản xuất nhôm và các hợp chất của nó đã được nghiên cứu khai triển có kết quả ở nhiều nước. Trong hoàn cảnh ngày nay , việc triển khai công nghệ và kỹ thuật khai thác các nguyên tố hiếm từ quặng boxit là không có một sự hạn chế hay một trường hợp ngoại lệ nào cả khả thi. Quy trình công nghệ đã được hoàn thiện , thiết bị không quá phức tạp , nhưng ở Việt Nam chưa có cơ sở nào tiến hành Học hỏi thử nghiệm và khai triển. Giá của gali trên thịt thế giới là 1600 USD/kg , còn giá của V 2 O 5 là 4-6 USD/kg , nếu không tận dụng khai khẩn các nguyên tố hiếm này thì sẽ rất phí phạm. Do vậy quốc gia nên có đầu tư Học hỏi khai triển cho lĩnh vực này và cần tiến hành ngay để có khả năng đón đầu khi chúng tôi bắt đầu làm ra alumin và nhôm quy mô lớn.



    Việc tận thu các nguyên tố hiếm trong làm ra các hợp chất nhôm cố ý nghĩa lớn về nhiều mặt :



    - góp phần hạ giá thành sản phẩm chính



    - khai thác tiết kiệm và hợp lý tài nguyên thiên nhiên



    - thu được những sản phẩm đặc biệt quý hiếm sử dụng cho những ngành công nghệ cao như bán dẫn , điện tử , chế tạo hợp kim , xúc tác , ...



    - giảm lượng chất thải độc hại vào môi trường

    Có 0 người thích bài viết này:
    Có 0 người không thích bài viết này:

+ Trả lời Chủ đề

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình